Khác biệt giữa các bản “USS Reno (CL-96)”

Infobox update
n (Sửa lỗi Chuyển đổi số không hợp lệ. (via JWB))
(Infobox update)
{{chú thích trong bài}}
{{Dablink|Về những tàu chiến Hoa Kỳ khác mang cùng tên, xin xem [[USS Reno]].}}
{{Infobox ship image
|Ship image= [[Tập tin:USS Reno (CL-96) under salvage after being torpedoed off the Philippines, 5 November 1944 (NH 63431).jpg|300px|USS Reno (CL-96) two days after being torpedoed]]
|Ship caption= Tàu tuần dương USS ''Reno'' (CL-96) bị nghiêng, hai ngày sau khi trúng ngư lôi ngoài khơi Philippines, tháng 11 năm 1944
}}
{{Infobox ship career
|Ship flag= {{USN flag|1946}}
|Ship name= USS ''Reno''
|Ship namesake= [[Reno, Nevada]]
|Ship ordered=
|Ship awarded=
|Ship laid down=[[1 tháng 8]] năm [[1941]]
|Ship launched=[[23 tháng 12]] năm [[1942]]
|Ship sponsor=bà August C. Frohlich
|Ship completed=
|Ship acquired=
|Ship struck=[[1 tháng 3]] năm [[1959]]
|Ship nickname=
|Ship honors= 3 × [[Ngôi sao Chiến đấutrận]]
|Ship captured=
|Ship fate= Bị tháo dỡ [[1962]]
}}
{{Infobox ship characteristics
|Hide header =
|Ship class= [[Atlanta (lớp tàu tuần dương)|Lớp tàu tuần dương ''Atlanta'']]
|Header caption =
|Ship displacement= {{convert|6000|LT|MT }} (tiêu chuẩn)<br/> {{convert|7400|LT|MT }} (đầy tải)
|Ship class= phân lớp ''Oakland'' của [[Atlanta (lớp tàu tuần dương)|Lớp tàu tuần dươnglớp ''Atlanta'']]
|Ship length= {{convert|541|ft|0|in|abbr=on}}
|Ship type= [[Tàu tuần dương hạng nhẹ]]
|Ship beam= {{convert|53|ft|2|in|abbr=on}}
|Ship draftdisplacement=* {{convert|266718|ftLT|6|in|abbr=onMT }} (tiêu chuẩn);
* {{convert|7400|LT|MT }} (đầy tải)
|Ship propulsion= 2 × turbine hơi nước hộp số <br/> 4 × nồi hơi ống nước, áp lực 665 psi <br/> 2 × trục <br/> công suất {{convert|75000|hp|kW|abbr=on|lk=on}}
|Ship speedlength= *{{convert|32,5530|knft|km/h|0}}(thiết kế), <br/> {{convert|33,6|kn|km/h|0abbr=on}} (thửmực máynước);
* {{convert|541|ft|m|abbr=on}} (chung)
|Ship beam= {{convert|5352|ft|210|in|abbr=on}}
|Ship lengthdraft= {{convert|54120|ft|06|in|abbr=on}}
|Ship power=* 8 × nồi hơi , áp lực 665 psi;
* công suất {{convert|75000|shp|lk=in|abbr=on|0}}
|Ship propulsion=* 2 × [[turbine hơi nước]] hộp số;
* 2 × trục
|Ship speed=* {{convert|32,5|kn|km/h|0}}(thiết kế);
* {{convert|33,6|kn|km/h|0}} (thử máy)
|Ship range= {{convert|8500|nmi|km}} ở tốc độ {{convert|15|kn|km/h|0}}
|Ship endurance=
|Ship boats=
|Ship complement= * 47 sĩ quan, 766 thủy thủ
* 766 thủy thủ
|Ship crew=
|Ship sensors=
|Ship EW=
|Ship armament= * 12 × pháo [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]] (6×2)<br/>;
16* 8 × pháo phòng không [[Bofors 40 mm]]/56 caliber <br />;
* 16 × pháo phòng không [[Oerlikon 20 mm]]/70 caliber <br/>;
* 8 × [[ống phóng [[ngư lôi]] [[Ngư lôi Mark 15|{{convert|21|in| inch (533 mm|abbr=on}})]] (2×4)
|Ship armor=* [[đai giáp chính]]: {{convert|1,1|-|3,575|in|mm|abbr=on}};<br/>sàn tàu: {{convert|1,25|in|mm|abbr=on}};<br/>tháp pháo: {{convert|1,25|in|mm|abbr=on}}
* sàn tàu: {{convert|1,25|in|mm|abbr=on}};
* [[tháp pháo]]: {{convert|1,25|in|mm|abbr=on}};
* tháp chỉ huy: {{convert|2,5|in|mm|abbr=on}}
|Ship aircraft=
|Ship aircraft facilities=
|}
 
'''USS ''Reno'' (CL-96)''' là một [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] phòng không của [[Hải quân Hoa Kỳ]] thuộc [[Atlanta (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Atlanta'']] từng phục vụ trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Chiến tranh Thế giới thứ hai]]. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt [[USS Reno|cái tên này]], nhưng là chiếc đầu tiên được đặt theo tên thành phố [[Reno, Nevada|Reno]] thuộc tiểu bang [[Nevada]].<ref group=Note>Chiếc USS ''Reno'' thứ nhất, {{USS|Reno|DD-303|3}}, một [[tàu khu trục]] [[Clemson (lớp tàu khu trục)|lớp ''Clemson'']], được đặt theo tên [[Thiếu tá Hải quân]] [[Walter E. Reno]]</ref> Được cho ngừngxuất hoạtbiên độngchế vào năm [[1946]], con tàu bị bán để tháo dỡ vào [[tháng ba|tháng 3]] năm [[1962]]. ''Reno'' được tặng thưởng ba [[Ngôi sao Chiến trận]] do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.
 
== Thiết kế và chế tạo ==
{{bài chính|Atlanta (lớp tàu tuần dương)}}
''Reno'' thuộc về một nhóm được cải tiến thuộc lớp tàu tuần dương hạng nhẹ ''Atlanta'', đôi khi còn được gọi là "lớp ''Oakland''". Giống như ''Atlanta'', chúng được thiết kế như những tàu tuần dương [[chiến tranh phòng không|phòng không]], với dàn pháo chính gồm những khẩu [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|0|abbr=on}}/38 cal]] [[pháo đa dụng|phòng không đa dụng]] (DP: dual-purpose). Khác biệt chính là chúng loại bỏ các khẩu đội pháo 5 inch bên mạn để tăng cường súng phòng không hạng trung và hạng nhẹ.
=== Thiết kế ===
Phân lớp ''RenoOakland'' thuộc về một nhómlớp được cải tiếnphụ thuộc lớp tàu tuần dương hạng nhẹ ''Atlanta'', đôi khi còn được gọicải là "lớp ''Oakland''"tiến. Giống như ''Atlanta'', chúng được thiết kế như những tàu tuần dương [[chiến tranh phòng không|phòng không]], với dàn pháo chính gồm những khẩu [[Hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|0|abbr=on}}/38 cal]] [[pháo đa dụng|phòng không đa dụng]] (DP: dual-purpose). Khác biệt chính giữa ''Oakland'' với ''Atlanta'' là chúng loại bỏ các khẩu đội pháo 5 inch bên mạn để tăng cường súng phòng không hạng trung [[Bofors 40 mm]] và hạng nhẹ [[Oerlikon 20 mm]].{{sfn|Friedman|1984|pp=231—233}}
 
=== Chế tạo ===
''Reno'' được đặt lườn vào ngày [[1 tháng 8]] năm [[1941]] bởi hãng [[Bethlehem Steel]] ở [[San Francisco|San Francisco, California]],. Con tàu được hạ thủy vào ngày [[23 tháng 12]] năm [[1942]], được đỡ đầu bởi bà August C. Frohlich, và được đưacho ranhập hoạtbiên độngchế cùng hải quân vào ngày [[28 tháng 12]] năm [[1943]] dưới quyền chỉ huy của Thuyềnhạm trưởng, [[Đại tá Hải quân]] Ralph C. Alexander.<ref name=DANFS>{{cite DANFS chiếc| tàu chiến đầu tiên của Hải quân Mỹ được đặt theo tên thành phố [[title=Reno, Nevada|Reno]] thuộc tiểu bang [[Nevada]]; một [[tàu khu trục]] cùng tên, [[USS RenoII (DDCL-30396) |USS ''Reno'' (DDurl=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-303)]],histories/danfs/r/reno-ii.html được đặt theo tên| author=[[ThiếuNaval Historical Hải quânCenter]] [[Walter| E.accessdate=17 Reno]].May 2021}}</ref><ref name=NavSource/>
 
== Lịch sử hoạt động ==
Sau một chuyến đi thử máy ngoài khơi bờ biển [[San Diego]], ''Reno'' khởi hành từ [[San Francisco]] vào ngày [[14 tháng 4]] năm [[1944]], đi về phía Tây để gia nhập [[Đệ Ngũ Hạmhạm đội Hoa Kỳ|Đệ Ngũ hạm đội]] thuộc quyền chỉ huy của [[Đô đốc]] [[Raymond A. Spruance]]. Trong thảnh phần Lực lượng Đặc nhiệm 58, một lực lượng tàu sân bay nhanh của [[Phó Đô đốc]] [[Marc Mitscher]], một mũi nhọn tấn công của Hạm đội 5, ''Reno'' lần đầu tiên tiếp xúc với đối phương khi nó hỗ trợ cho các cuộc không kích thứ yếu xuống [[đảo Marcus]] vào ngày [[19 tháng 5|19]]–[[20 tháng 5]]. Ba ngày sau, nó hỗ trợ cho các cuộc không kích lên [[đảo Wake]] do Nhật Bản chiếm đóng.<ref name=DANFS/>
 
Trong các tháng [[tháng sáu|tháng 6]] và [[tháng bảy|7]] năm [[1944]], ''Reno'' tham gia cùng các [[tàu sân bay]] nhanh trong cuộc không kích bất ngờ xuống [[Saipan]] vào ngày [[11 tháng 6]], xuống [[đảo Pagan]] vào ngày [[12 tháng 6|12]]–[[13 tháng 6]] cùng các [[quần đảo Volcano]] và [[Quần đảo Ogasawara|Bonin]], đặc biệt là [[Đảo Iō|Iwo Jima]], [[Haha Jima]] và [[Chichi Jima]], trong các ngày [[15 tháng 6|15]]–[[16 tháng 6]]. Ba ngày sau, ''Reno'' trợ giúp vào việc đẩy lùi một cuộc tấn công quy mô lớn của lực lượng tàu sân bay [[Hải quân Đế quốc Nhật Bản|Hải quân Nhật Bản]], tìm cách đánh bại chiến dịch xâm chiếm [[quần đảo Mariana]] (bao gồm [[Guam]], [[Saipan]] và [[Tinian]]), trong [[Trận chiến biển Philippines|Trận chiến biển Philippine]] lớn lao, cuộc đối đầu giữa các tàu sân bay lớn nhất trong mọi thời đại, và là một chiến thắng áp đảo của Hải quân Hoa Kỳ.<ref name=DANFS/>
 
Từ ngày [[20 tháng 6]] đến ngày [[8 tháng 7]], ''Reno'' tham gia các hoạt động hỗ trợ cho việc chinh phục Saipan. Sau đó, nó hỗ trợ cho việc đổ bộ lên [[Guam]] từ ngày [[17 tháng 7|17]] đến ngày [[24 tháng 7]], và hai ngày sau đó tham gia các cuộc không kích xuống [[quần đảo Palau]] từ ngày [[26 tháng 7|26]] đến ngày [[29 tháng 7]]. Đệ Ngũ hạm đội được chuyển thành [[Đệ tam Hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Tam hạm đội]] khi Đô đốc [[William F. Halsey, Jr.]] luân phiên tiếp nhận quyền chỉ huy, và nó thực hiện một loạt các cuộc không kích xuống [[quần đảo Ogasawara|quần đảo Bonin]] trong các ngày [[4 tháng 8|4]]–[[5 tháng 8]], rồi đến ngày [[7 tháng 9]], Lực lượng Đặc nhiệm 38 (trước đây là Lực lượng Đặc nhiệm 58), quay trở về phía Nam để tấn công PalausPalau một lần nữa.<ref name=DANFS/>
 
Sau khi di chuyển về phía Tây vượt qua [[biển Philippines|biển Philippine]], ''Reno'' cùng với Lực lượng Đặc nhiệm 38 thực hiện một trong những cuộc không kích đầu tiên xuống [[Philippines]], nhắm vào đảo [[Mindanao]] phía Nam và những đảo lân cận, từ ngày [[9 tháng 9|9]] đến ngày [[13 tháng 9]]. Đơn vị này cũng hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên hai đảo thuộc quần đảo Palau trong các ngày [[15 tháng 9|15]]-[[20 tháng 9]]; rồi từ ngày [[21 tháng 9|21]] đến ngày [[22 tháng 9]] tiến hành không kích xuống khu vực [[Manila]] trên đảo [[Luzon]] thuộc phía Bắc Philippines. Khi tấn công đảo [[Nansei Shoto]] vào ngày [[8 tháng 10]], ''Reno'' cùng với Lực lượng Đặc nhiệm 38 đã tiến đến sát các đảo chính quốc Nhật Bản hơn bất kỳ đơn vị Hải quân Hoa Kỳ nào khác kể từ đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai.<ref name=DANFS/>
 
Trong một loạt các cuộc không kích quy mô lớn của Lực lượng Đặc nhiệm 38 xuống các sân bay Nhật Bản tại [[ĐảiĐài Loan]] từ ngày [[12 tháng 10|12]] đến ngày [[14 tháng 10]], vốn đã đưa đến những cuộc phản công quy mô lớn bởi các máy bay Nhật, ''Reno'' đã bắn rơi ít nhất sáu máy bay đối phương. Vào lúc cao điểm của trận không chiến, một [[máy bay ném ngư lôi]] [[Lục quân Đế quốc Nhật Bản|Lục quân Nhật Bản]] đã đâm vào đuôi của ''Reno'' và nổ tung, Tháp pháo số 6 tạm thời không hoạt động do vụ nổ, nhưng sĩ quan chỉ huy của nó đã thành công trong việc phục hồi lại hỏa lực phòng không chống lại máy bay Nhật tấn công.<ref name=DANFS/>
 
Ngày [[24 tháng 10]], bốn ngày sau cuộc đổ bộ lên [[leyte (đảo)|đảo Leyte]], trong khi hỗ trớ bằng cách tấn công sân bay tại Luzon, Lực lượng Đặc nhiệm 38 chịu đựng các cuộc không kích quy mô lớn từ số máy bay xuất phát từ [[sân bay Clark]], Luzon. [[Tàu sân bay hạng nhẹ]] [[USS Princeton (CVL-23)|''Princeton'']] chịu đựng gánh nặng của đòn phản công này, bị đánh trúng bom và bị buộc phải rút lui khỏi lực lượng đặc nhiệm. ''Reno'' được phân công giúp đỡ dập tắt các đám cháy trên ''Princeton'', đưa hết các vòi cứu hỏa vào hoạt động đồng thời cứu vớt thủy thủ đoàn của nó. ''Reno'' đã năm lần tìm cách cặp song song với ''Princeton'', nhưng không thể ở lại lâu do sức nóng dữ dội và khói bốc ra từ ciếcchiếc tàu sân bay đang cháy.<ref name=DANFS/>
 
Trong khi ''Reno'' trợ giúp ''Princeton'', chiếc tàu sân bay bắt đầu nghiêng mạnh, sàn đáp của nó va trúng một trong các khẩu đội 40&nbsp;mm của ''Reno''. Các nỗ lực nhằm cứu chiếc tàu sân bay được tiếp tục, nhưng khi hầm chứa đầu đạn [[ngư lôi]] của bị kích nổ, mọi nỗ lực trở nên vô vọng. Mệnh lệnh được đưa ra đánh chìm ''Princeton'' bằng ngư lôi của chính nó, và ''Princeton'' trở thành chiếc tàu sân bay Mỹ cuối cùng bị đối phương đánh chìm.<ref name=DANFS/>
 
Ngày [[25 tháng 10]], sau khi gia nhập trở lại Lực lượng Đặc nhiệm 38, ''Reno'' cùng các tàu chiến khác đi lên phía Bắc để đối đầu với Lực lượng phía Bắc Nhật Bản, bao gồm các tàu sân bay trống không vốn chỉ là một mồi nhữ, và đã tham gia [[Trận chiến vịnh Leyte#Trận chiến ngoài khơi mũi Engaño (25–26 tháng 10)|Trận chiến mũi Engaño]], cuộc đối đầu sau cùng trong khuôn khổ [[Trận chiến vịnh Leyte]].<ref name=DANFS/>
 
Trong đêm [[3 tháng 11]], đang khi ở về phía Đông [[eo biển San Bernardino]], trúng phải ngư lôi bên mạn trái từ [[tàu ngầm]] Nhật [[I-41 (tàu ngầm Nhật)|''I-41'']]. Nó phải được kéo đi qua chặng đường {{convert|1500|mi|km|abbr=on}} quay về căn cứ hải quân chính của Mỹ tại [[đảo san hô Ulithi]] để được sửa chữa tạm thời, rồi ''Reno'' di chuyển bằng chính động lực của nó vượt qua Thái Bình Dương, băng qua [[kênh đào Panama]] để đi đến [[Charleston, Nam Carolina|Charleston, South Carolina]], nơi nó vào [[Xưởng Hải quân Charleston]] vào ngày [[22 tháng 3]] năm [[1945]] để sửa chữa lớn. Nó chỉ ra khỏi ụ tàu bảy tháng sau đó, khi cuộc xung đột đã kết thúc, và được lệnh đi đến bờ biển [[Texas]], rồi quay trở lại Charleston để bổ sung thêm hàng trăm giường ngủ. Nó tham gia [[Chiến dịch Magic Carpet (Thế Chiến II)|Chiến dịch Magic Carpet]], thực hiện hai chuyến đi đến [[Le Havre]], [[Pháp]] để hồi hương cựu chiến binh Mỹ từng phục vụ ở nước ngoài.<ref name=DANFS/>
 
Đầu năm [[1946]], ''Reno'' đi đến [[Port Angeles, Washington]], nơi nó được cho ngừng hoạt động vào ngày [[4 tháng 11]] năm [[1946]], và được đưa về Hạm đội Dự bị Thái Bình Dương neo đậu tại [[Bremerton, Washington]]. Được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới '''CLAA-96''' vào ngày [[18 tháng 3]] năm [[1949]], nó vẫn tiếp tục bị bỏ không tại Bremerton cho đến khi bị rút tên khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[1 tháng 3]] năm [[1959]], và bị bán vào ngày [[22 tháng 3]] năm [[1962]] cho hãng Coal Export Co. tại [[thành phố New York]] để tháo dỡ.<ref name=NavSource/><ref name=DANFS/>
 
Một trong những tháp pháo 5 inch của ''Reno'' hiện đang được lưu giữ để trưng bày tại [[Bảo tàng Hải quân Hoa Kỳ]], [[Washington, D.C.]].<ref name=DANFS/>
 
== Phần thưởng ==
''Reno'' được tặng thưởng ba [[Ngôi sao Chiến đấutrận]] do thành tích phục vụ trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Thế chiến II]].<ref name=NavSource>{{chú thích web | last=Yarnall | first=Paul | url=https://www.navsource.org/archives/04/096/04096.htm | title=USS Reno (CL 96/CLAA 96) | website=NavSource.org | date=6 April 2020 | accessdate=20 March 2021}}</ref><ref name=DANFS/>
<center>
{|
|{{ribbon devices|number=0|type=service-star|ribbon=Combat Action Ribbon.svg|width=103}}
|{{ribbon devices|number=0|type=service-star|ribbon=American Campaign Medal ribbon.svg|width=103}}
|{{ribbon devices|number=3|type=service-star|ribbon=Asiatic-Pacific Campaign Medal ribbon.svg|width=103}}
|-
|{{ribbon devices|number=0|type=service-star|ribbon=World War II Victory Medal ribbon.svg|width=103}}
|{{ribbon devices|number=0|type=service-star|ribbon=Presidential Unit Citation (Philippines).svg|width=103}}
|{{ribbon devices|number=2|type=service-star|ribbon=Phliber rib.svg|width=103}}
|}
{|class="wikitable"
|-align=center
|[[Dãi băng Hoạt động Tác chiến]]
|[[Huân chương Chiến dịch Hoa Kỳ]]
|[[Huân chương Chiến dịch Châu Á-Thái Bình Dương]]<br>với 3 [[Ngôi sao Chiến trận]]
|-align=center
|[[Huân chương Chiến thắng Thế Chiến II (Hoa Kỳ)|Huân chương Chiến thắng Thế Chiến II]]
|[[Đơn vị Tuyên dương Tổng thống Philippine]]
|[[Huân chương Giải phóng Philippine]] <br>với 2 Ngôi sao Chiến trận
|}
</center>
 
== Tham khảo ==
=== Ghi chú ===
* Bài này có các trích dẫn từ nguồn [[:en:Dictionary of American Naval Fighting Ships]] thuộc [[phạm vi công cộng]].
{{reflist|group=Note}}
=== Chú thích ===
{{Tham khảo}}
=== Thư mục ===
* {{cite DANFS | title=Reno II (CL-96) | url=https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/r/reno-ii.html | author=[[Naval Historical Center]] | accessdate=17 May 2021}}
* {{chú thích sách| last=Friedman | first=Norman | title=U.S. Cruisers: an illustrated design history | publisher=Naval Institute Press | location=Annapolis, MD | year=1984 | isbn=0870217186 | oclc=10949320 | ref=Harv}}
 
{{Lớp tàu tuần dương Atlanta}}