Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Văn Cao”

trích dẫn, nguồn tham khảo (CAND)
(Đã cứu 11 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.8)
(trích dẫn, nguồn tham khảo (CAND))
| ảnh hưởng tới = [[Phạm Duy]],<ref name="PhamDuy2007">[[Phạm Duy]], ''[https://amnhac.fm/van-cao/4151-van-cao-trong-toi Văn Cao Trong Tôi]''. (Âm nhạc Online - amnhac.fm, 9.10.2007). Phạm Duy (2007): "...''Trường ca Sông Lô'' là bản hát dài đầu tiên của chúng ta, là một tuyệt phẩm mà những người đi sau Văn Cao (như tôi) đã học hỏi được rất nhiều ở ông để tiếp tục làm giàu cho âm nhạc Việt Nam. Tôi muốn được công khai tỏ lòng biết ơn thiên tài Văn Cao trong buổi nói chuyện này." [Chú thích: Trích dẫn theo nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc Phạm Duy trong bài nói chuyện về sự nghiệp sáng tác âm nhạc của Văn Cao tại Phòng trà Tình ca, TP. Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 10 năm 2007.]</ref> [[Thanh Thảo (nhà thơ)|Thanh Thảo]]<ref name="ThanhThảo2020"/>
}}
'''Văn Cao''' (tên đầy đủ là '''Nguyễn Văn Cao''', sinh ngày [[15 tháng 11]] năm [[1923]] – mất ngày [[10 tháng 7]] năm [[1995]]) là một [[nhạc sĩ]], [[họa sĩ]],<ref>Nguyễn Nguyệt, ''[http://vhnt.org.vn/tin-tuc/chan-dung-van-hoa/29166/hoi-hoa-van-cao HỘI HỌA VĂN CAO]''. (Tạp chí ''Văn hóa Nghệ thuật'' số 320, tháng 2-2011)</ref><ref>Trần Khánh Chương (Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam), ''[http://vietnamfineart.com.vn/Story/Tapchimythuat/2013/12/3898.html Kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhạc sĩ, họa sĩ, thi sĩ Văn Cao (1923-2013): Có một họa sĩ tài ba, Văn Cao] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20170922200210/http://vietnamfineart.com.vn/Story/Tapchimythuat/2013/12/3898.html |date=2017-09-22 }}''. (Trang điện tử của Hội Mỹ thuật Việt Nam, 2013)</ref><ref name="thethaovanhoa.vn">Văn Bảy, ''[http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/20-nam-ngay-mat-van-cao-mot-hoa-si-tron-ven-va-rong-rai-n20150713045842156.htm 20 năm ngày mất Văn Cao: Một họa sĩ trọn vẹn và rộng rãi]''. (Báo Thể thao & Văn hóa, 13/07/2015)</ref> [[thi sĩ]],<ref name="ReferenceALêThiếuNhơn"/><ref>''[http://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/Nha-tho-Van-Cao-Toi-khong-duoc-lam-trai-tim-dau-mua-329074/ Nhà thơ Văn Cao: Tôi không được làm trái tim đầu mùa...]'' (Báo Công an nhân dân điện tử, 08/07/2011)</ref><ref>[[Vũ Quần Phương]], ''[http://vanhien.vn/news/Dong-gop-cua-Van-Cao-vao-tho-duong-dai-31043 Đóng góp của Văn Cao vào thơ đương đại]''. (Tạp chí điện tử Văn Hiến Việt Nam, 12/02/2014)</ref><ref>Hà Thị Hoài Phương, ''[http://vanvn.net/ong-kinh-phe-binh/ngon-ngu-nghe-thuat-tho-van-cao/336 Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao]''. (Tạp chí điện tử Văn Hiến Việt Nam, 15/10/2015)</ref> [[chiến sĩ]] biệt động ái quốc<ref name="ThanhThảo2020"/><ref>[[Nguyễn Thụy Kha]], ''[http://suckhoedoisong.vn/nam-dinh-hoi-1947-voi-van-cao-n126928.html Năm Đinh Hợi 1947 với Văn Cao]''. (Báo điện tử Sức khỏe & Đời sống, 27/1/2017)</ref><ref name="Văn Cao với Đội danh dự Việt Minh">Văn Thao, ''[http://antg.cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Van-Cao-voi-doi-danh-du-Viet-Minh-363981/ Văn Cao với Đội danh dự Việt Minh]''. (Báo Công an nhân dân điện tử, 02/09/2015)</ref><ref>Văn Thao, ''[http://antg.cand.com.vn/Kinh-te-Van-hoa-The-Thao/Quan-Bien-Thuy-va-chuyen-trong-dinh-Hoang-A-Tuong-406275/ Quán Biên Thùy và chuyện trong dinh Hoàng A Tưởng]''. (Báo Công an nhân dân điện tử, 31/08/2016)</ref> người Việt Nam. Ông là tác giả của ca khúc ''[[Tiến quân ca]] —'' [[quốc ca]] chính thức của nước [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] nay là [[Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]], đồng thời ông cũng là một trong những nhạc sĩ có sức ảnh hưởng lớn nhất của nền [[Tân nhạc Việt Nam]]. Ông được giới chuyên môn và công chúng yêu nhạc đánh giá một cách rộng rãi là một trong ba [[nhạc sĩ]] nổi bật nhất của nền [[Âm nhạc Việt Nam|âm nhạc hiện đại Việt Nam]] trong [[Thế kỷ 20|thế kỷ XX]], cùng với [[Phạm Duy]], [[Trịnh Công Sơn]].
 
Thuộc thế hệ [[nhạc sĩ]] tiên phong, Văn Cao tham gia [[Đồng Vọng|nhóm Đồng Vọng]], sáng tác các ca khúc trữ tình lãng mạn như ''[[Bến xuân]]'', ''[[Suối mơ]]'', ''[[Thiên Thai (bài hát)|Thiên Thai]]'', ''[[Trương Chi (bài hát)|Trương Chi]]'',... nhanh chóng trở thành một trong những gương mặt tiên phong, nổi bật nhất của [[:Thể loại:Âm nhạc lãng mạn Việt Nam|trào lưu lãng mạn trong lịch sử âm nhạc Việt Nam]], đặc biệt là để lại những dấu ấn mang tính khai phá của ông trong tân nhạc Việt. Sau khi gia nhập [[Việt Minh]], Văn Cao chủ yếu viết về nhiều ca khúc mang âm hưởng hào hùng như ''[[Tiến quân ca]]'', ''[[Trường ca Sông Lô]]'', ''[[Tiến về Hà Nội]]'',... vì vậy ông đã trở thành một [[nhạc sĩ]] tiêu biểu của dòng [[nhạc đỏ|nhạc kháng chiến]]. Sau sự kiện ''[[Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm|Nhân văn – Giai phẩm]]'', Văn Cao phải đi [[Học tập cải tạo|học tập chính trị]]. Trừ ''[[Tiến quân ca]]'', tất cả những [[Bài hát|ca khúc]] của ông cũng giống như các nhạc phẩm tiền chiến khác không được lưu hành ở [[Miền Bắc (Việt Nam)|miền Bắc]]. Đến cuối [[thập niên 1980]], những nhạc phẩm này mới được lưu hành trở lại.
 
Được nhiều người xem là một hình mẫu thiên tài trong lịch sử văn nghệ Việt Nam,<ref name="ThanhThảo2020"/><ref name="PhạmDuy2007"/><ref name="ĐặngAnhĐào2009A"/> tài năng nghệ thuật đa dạng mang tính tổng hợp cao giữa văn chương (thi ca) - âm nhạc - hội họa của Văn Cao đã sớm có những thành tựu đột khởi ngay từ độ tuổi mười tám đôi mươi.<ref>[[Tạ Tỵ]]: "Văn Cao nhập cuộc không phải bằng tài năng đơn độc mà bằng một thác lũ nghệ thuật, chùm lấp vòm trời Kinh đô Văn nghệ. (...) Ở Văn Cao, mỗi lời thơ là một hạt ngọc, mỗi tiếng nhạc là mỗi sợi tơ, mỗi màu sắc là một vùng hào quang diễm lệ." (''Mười khuôn mặt văn nghệ'', 1970)</ref><ref>Phạm Duy: "...Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều. (...) Hình như Văn Cao có đi học vẽ ở [[Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương|trường Cao đẳng Mỹ thuật]] như tôi, nhưng chắc chắn anh đã được hoạ sĩ Lưu Văn Sìn dắt vào hội hoạ. Văn Cao vẽ rất giỏi. Tôi giữ được bức tranh tự hoạ của Văn Cao, tranh sơn dầu vẽ trên bìa cứng cho tới ngày Pháp đánh Saigon vào năm 1945 thì mất, tiếc quá! Văn Cao làm thơ cũng rất hay. Vào năm 1941 mà anh đã có những câu thơ nghe như thơ [[Huy Cận]] (...) Chưa gặp Văn Cao nhưng tôi đã biết tài soạn nhạc qua mấy bài nhạc hùng của anh rồi..." (trích dẫn từ hồi ký của nhạc sĩ, nhà nghiên cứu tân nhạc Phạm Duy)</ref><ref name="NTNH"/> Không được đào tạo một cách thực sự chính quy, chuyên sâu cả về [[âm nhạc]] và [[hội họa]], những thành tựu của Văn Cao trong hai lĩnh vực này có thể nói là bắt nguồn chủ yếu từ thiên năng nghệ thuật sẵn có của ông (nói theo lời của nhà nghiên cứu âm nhạc [[Nguyễn Thụy Kha]] thì "Văn Cao là trời cho"). Ông được nhiều người xem là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử phát triển của [[văn hóa Việt Nam]] – ở nơi "dòng chảy" của sáng tạo cá nhân một con người có sự "hợp lưu" xuyên suốt của ba nhánh nhạc-họa-thơ trong gần như toàn bộ những sáng tác đa dạng của ông. TổngNhận kếtđịnh về sự nghiệp văn nghệ của Văn Cao, nhiều người thường nhắc đến ông như một [[nghệ sĩ]] đa tài, thích "lãng du" qua những "địa hạt" (lĩnh vực) nghệ thuật khác nhau. Dù không gắn bó liên tục quá lâu với một địa hạt nào trong số đó nhưng đối với những "miền" nào ông đã bước qua thì Văn Cao cũng đều lưu dấu không ít sáng tạo mang tính khai phá - mở lối dành cho những người đến sau ông. Như nhạc sĩ [[Phạm Duy]] sinh thời đã nhiều lần xác nhận, sự nghiệp sáng tác của ông chịu một ảnh hưởng lớn từ những khai mở (về chuyên môn) và khích lệ (về tinh thần) từ Văn Cao, với tư cách là một người bạn văn nghệ tri kỷ của Phạm Duy. Dù những sáng tác của Văn Cao (đặc biệt là về âm nhạc và thơ ca) nói chung không thực dồi dào về số lượng nhưng về mặt chất lượng chúng có ảnh hưởng mang tính định hướng và đặt nền cho sự phát triển của đời sống văn nghệ Việt Nam hiện đại. Một số ví dụ điển hình là vai trò đặc biệt quan trọng của ông trong sự định hình của thể loại tình ca, hùng ca (trong đó nổi bật là dòng [[nhạc cách mạng]]) và [[trường ca (âm nhạc)|trường ca]] trong âm nhạc cũng như thể loại [[Những người trên cửa biển|trường ca trong thơ]] hiện đại Việt Nam. Tuy nhiên những đóng góp về thơ ca và hội họa của Văn Cao vì nhiều lý do khác nhau mà ít được nhắc tới hơn rất nhiều so với những thành tựu trong âm nhạc của ông.
 
Là một người tài hoa vào loại bậc nhất trong lịch sử văn nghệ Việt Nam, nhưng ngay từ thời còn niên thiếu ở [[Hải Phòng]] ông đã là một người có thiên hướng khép kín, trầm tư, ít bộc lộ bản thân trước đám đông. Sau biến cố ''[[Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm|Nhân văn – Giai phẩm]]'' cuối [[thập niên 1950]], ông lại càng có xu hướng sống khép kín và cô độc hơn mặc dù luôn có gia đình (đặc biệt là vợ ông) và một số bạn văn nghệ thân quen làm chỗ dựa cho đến những năm cuối đời. Khác với quan niệm truyền thống xưa nay về tài tử và giai nhân, cuộc đời của Văn Cao ít có những tiếp xúc mang tính lãng mạn với phái nữ vì như ông từng bộc bạch trong một cuốn [[Văn Cao - Giấc mơ một đời người|phim tài liệu về mình rằng]], "Tôi là một cái người luôn luôn thất bại về tình yêu, cái thất bại này là bởi vì tôi là người không giỏi về cách tôi giao lưu với những người đàn bà, mà lại đối với những người đẹp tôi lại càng bối rối, tôi không bao giờ nói được với người ta, thì tôi bèn nói trong thơ thôi." [[Lê Thiếu Nhơn]] trong một bài viết đăng trên báo [[Báo Công an nhân dân]] có tổng kết: "Cuộc đời 72 năm của Văn Cao gắn bó trọn vẹn với Việt Nam thế kỷ 20 nhiều biến động, để lại cho thế hệ sau không ít câu hỏi không dễ trả lời. Câu hỏi rộn ràng về cống hiến nhọc nhằn, câu hỏi cồn cào về thế sự ngổn ngang, về mệnh kiếp lênh đênh. Một Văn Cao đa tài không thể che chở một Văn Cao lận đận. Một Văn Cao danh vọng không thể bênh vực một Văn Cao cay đắng. Một Văn Cao hào hoa không thể an ủi một Văn Cao cô độc. Những ngày tháng Văn Cao đã sống, cứ đổ cái bóng gầy hắt hiu và trắc ẩn vào lòng công chúng, mà những bài hát của ông không lý giải được, những bức tranh của ông cũng không lý giải được. Chỉ còn lại thơ, xoa dịu và tỏ bày giùm Văn Cao."<ref name="LêThiếuNhơn"/>
 
Năm [[1996]], một năm sau khi mất, Văn Cao được tặng [[Giải thưởng Hồ Chí Minh]] trong đợt trao giải đầu tiên. Ông cũng đã được [[Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam|Nhà nước Việt Nam]] trao tặng [[Huân chương Kháng chiến]] hạng nhất, [[Huân chương Độc lập]] hạng ba, [[Huân chương Độc lập]] hạng nhất, [[Huân chương Hồ Chí Minh]].<ref>{{Chú thích web|url=http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20160707/gia-dinh-nhac-si-van-cao-hien-tang-ca-khuc-tien-quan-ca/1133173.html|tiêu đề=Gia đình nhạc sĩ Văn Cao hiến tặng ca khúc Tiến quân ca}}</ref> Tên ông cũng được đặt cho nhiều con phố đẹp ở [[Hà Nội]], [[Thành phố Hồ Chí Minh]], [[Hải Phòng]], [[Huế]], [[Đà Nẵng]], [[Nam Định]],...
{{Pull quote|Chắc hẳn một nghệ sĩ như Văn Cao chưa hề được thẩm định một cách xứng đáng về hội họa và thơ. Chỉ một câu thơ như: ''Có lúc / nước mắt không thể chảy ra ngoài được'' đã là cả một ám ảnh đọng lại mãi trong lòng người. Tôi cảm thấy, ít nhất, những người thuộc thế hệ chúng tôi còn mắc nợ với một thiên tài của đất nước như Văn Cao.|200px||Đặng Anh Đào<ref name="ĐặngAnhĐào2009A">Trích dẫn theo tác giả Đặng Anh Đào (con gái của nhà nghiên cứu, phê bình văn học [[Đặng Thai Mai]]) trong bài viết [http://antgct.cand.com.vn/Khoa-hoc-Van-Minh/Thien-tai-va-da-tai-311710/ “Thiên tài và đa tài” (Báo Công an nhân dân điện tử, 22/08/2009).]</ref>}}
 
{{Pull quote|Cuộc đời 72 năm của Văn Cao gắn bó trọn vẹn với Việt Nam thế kỷ XX nhiều biến động, để lại cho thế hệ sau không ít câu hỏi không dễ trả lời. Câu hỏi rộn ràng về cống hiến nhọc nhằn, câu hỏi cồn cào về thế sự ngổn ngang, về mệnh kiếp lênh đênh. Một Văn Cao đa tài không thể che chở một Văn Cao lận đận. Một Văn Cao danh vọng không thể bênh vực một Văn Cao cay đắng. Một Văn Cao hào hoa không thể an ủi một Văn Cao cô độc.|200px||Lê Thiếu Nhơn<ref name="ReferenceALêThiếuNhơn">Trích dẫn theo tác giả Lê Thiếu Nhơn trong bài viết [http://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/Van-Cao-trong-coi-tho-446578/ “Văn Cao trong cõi thơ” (Báo Công an nhân dân điện tử, 27/06/2017).]</ref>}}
 
{{Pull quote|Văn Cao sáng tác ''[[Buồn tàn thu]]'' năm 1939, lúc mới có 16 tuổi, ''Thiên Thai'' (năm 1940), ''Trương Chi'', ''Thu cô liêu'', ''Bến xuân'', ''Suối mơ'' (năm 1941)… Thiên tài âm nhạc Văn Cao đã phát lộ vào tuổi đôi mươi mơ mộng. Và đến những bản hùng ca chứa đựng hào khí dân tộc trong những ngày đầu độc lập và toàn quốc kháng chiến: ''Bắc Sơn'', ''Làng tôi'', ''Ngày mùa'', ''[[Trường ca sông Lô]]''… và đỉnh cao là ''[[Tiến quân ca]]'', sau này trở thành Quốc ca. Những thành công lớn đó của Văn Cao trong âm nhạc đã nhanh chóng đưa Văn Cao đến đỉnh vinh quang và trong ý niệm của công chúng ông là một thiên tài âm nhạc. Điều đó phần nào đã che lấp đi một Văn Cao khác – Văn Cao thi sĩ và Văn Cao họa sĩ.|200px||Đỗ Ngọc Thạch<ref name="Newvietart 2009">Trích dẫn theo tác giả Đỗ Ngọc Thạch trong bài viết “Văn Cao - Dòng suối mơ không vơi cạn...”.</ref>}}
{{Pull quote|Thơ ông đẹp một cách quyết liệt. Thơ ông thật đến siêu thực. Thơ ông mới bất ngờ như mầm cây vừa đội đất trồi lên.|200px||Nhạc sĩ, nhà thơ [[Nguyễn Trọng Tạo]]<ref name="vannghequandoi.com.vn"/>}}
 
{{Pull quote|Những ngày tháng Văn Cao đã sống, cứ đổ cái bóng gầy hắt hiu và trắc ẩn vào lòng công chúng, mà những bài hát của ông không lý giải được, những bức tranh của ông cũng không lý giải được. Chỉ còn lại thơ, xoa dịu và tỏ bày giùm Văn Cao. Từ những bài thơ đầu tiên viết năm 1939 đến bài thơ cuối cùng “Tôi ở” viết tháng 8-1994, Văn Cao có di sản khoảng chừng 60 bài, nhưng vẫn hiển lộ đầy đủ một chân dung nhà thơ khắc khoải với khát vọng lớn lao “tới bao giờ tôi gặp được biển?”. Trong sự mến mộ của công chúng phổ thông, chân dung nhạc sĩ Văn Cao luôn khỏa lấp chân dung nhà thơ Văn Cao, bởi lẽ cảm giác xao xuyến thường lấn lướt nhận thức sâu xa.|200px||Lê Thiếu Nhơn<ref name="ReferenceALêThiếuNhơn"/>}}
 
{{Pull quote|Tuy nhiên, bài thơ “Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc” và bài thơ “Ngoại ô mùa đông 1946” chỉ tạo đà cho khoảnh khắc nhảy vọt trong thơ Văn Cao, đó là sự ra đời của trường ca “[[Những người trên cửa biển]]” viết vào mùa xuân 1956, giúp cán cân thơ – nhạc có thành tựu tương đương. Với bốn chương chia làm 16 khổ thơ, trường ca “Những người trên cửa biển” được viết trên tinh thần “Tôi yêu Hải Phòng như Việt Nam nhỏ lại / Tôi yêu Việt Nam như tôi biết yêu tôi”. (...) Thử thách thể loại trường ca đòi hỏi sức cảm sức nghĩ phi thường, cũng chính là cơ hội phô diễn một Văn Cao tài năng cồng kềnh.|200px||Lê Thiếu Nhơn<ref name="ReferenceALêThiếuNhơn"/>}}
 
{{Pull quote|...Và cho đến nay, công chúng vẫn chỉ biết đến Văn Cao nhạc sĩ và Văn Cao họa sĩ, còn Văn Cao thi sĩ thì chỉ những người quen thân và trong làng văn biết rõ mà thôi! Thực ra, Văn Cao đồng thời sáng tác cả nhạc, thơ và hội họa. Người đời còn ít biết đến thơ của Văn Cao vì nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân chủ yếu là trong nhiều năm (có đến gần 30 năm, từ khoảng 1957 đến 1985), thơ Văn Cao không được xếp vào “dòng chảy chính thống” của thơ ca Việt Nam hiện đại. Phải chờ đến thời kỳ “đổi mới tư duy”, những giá trị lớn lao của thơ Văn Cao (cũng như nhạc Văn Cao) mới được “hợp pháp hóa” ! Riêng về chuyện này, có thể nói Văn Cao là một điển hình của một mẫu người nghệ thuật đa tài, đa năng và đa nạn. Nhưng chính qua sự “thử lửa” đó của cuộc đời, cốt cách thi nhân của Văn Cao đã trở thành vàng nguyên khối, bản lĩnh thi nhân của Văn Cao càng lớn, sức sống của thơ Văn Cao càng mạnh mẽ…|200px||Đỗ Ngọc Thạch<ref name="Newvietart 2009"/>}}