Khác biệt giữa các bản “Hạc cầm”

 
== Lịch sử ==
===Tây phương===
[[Tập tin:Harp Player in a Pavillion - Qiu Ying.jpg|thumb|300px|Tranh Trung Hoa có cảnh người đàn bà chơi "không hầu", nhạc cụ cùng thể loại với hạc cầm]]
Tương truyền hạc cầm bắt ý từ cây [[cung]] bẻ cong và gắn nhiều dây. Thời cổ đại, hạc cầm là nhạc cụ gắn liền với những câu chuyện thần tiên với [[thiên sứ|thiên thần]] bay trên không, tay ôm đàn hạc và hát múa giữa đền đài tráng lệ của [[vua]] [[chúa]] để giới [[quý tộc]] thưởng ngoạn.
Những cây đàn hạc lâu đời nhất nay còn dấu tích xuất phát từ di chỉ [[Sumer]] cổ đại ở miền nam [[Iraq]]. Đây một trong những loại nhạc cụ cổ nhất của loài người, có lẽ ra đời tại [[Ai Cập]] vào khoảng 6.000 năm [[trước Công nguyên]]<ref>{{chú thích web | url = http://suckhoedinhduong.nld.com.vn/127647p0c1020/canh-hac-co-don.htm | tiêu đề = Cánh hạc cô đơn Văn hóa | author = | ngày = | ngày truy cập = 7 tháng 6 năm 2014 | nơi xuất bản = Người Lao động | ngôn ngữ = }}</ref> hay trễ nhất là 4000 năm trước Công nguyên thời kỳ [[Babilon]] và [[Lưỡng Hà]]. Những mảng [[điêu khắc]] trên lăng mộ [[Pharaon|Pharaoh]] [[Ramesses III|Ramses III]] (1198-1166 Trước Công nguyên) đã thấy hạc cầm. Cây đàn này cũng có mặt trong các vật tự khí chôn ở Iraq khoảng 2900 trước Công nguyên. Từ [[Trung Đông]] hạc cầm theo chân làn sóng [[Hồi giáo]] lan sang [[Bắc Phi]] rồi tới [[Tây Ban Nha]] vào thế kỷ thứ 8. Từ đó hạc cầm du nhập châu Âu.
 
===Đông phương===
Ở [[Châu Á]], Cổ đại Trung Hoa có [[:en:konghou|không hầu]], nhạc cụ tương tự như hạc cầm. Không hầu có lẽ thất truyền vào thế kỷ 15 trở đi (thời [[nhà Minh]]) rồi lại hồi sinh vào [[thế kỷ 20]] qua dạng cây đàn hạc đôi; phiên bản hiện đại của nhạc cụ nay không giống với cổ vật mà lại có nhiều điểm tương đồng với đàn hạc hòa nhạc phương Tây. Theo khảo cứu, thì đàn không hầu tính đến nay đã hơn 2000 năm lịch sử nhưng ngoài giàn nhạc cung đình, loại đàn không phổ biến trong dân gian.
 
Đàn không hầu ngày xưa có hai dạng: đàn nằm và đàn đứng, lắp hai hàng dây, mỗi hàng 36 dây, mỗi dây đều do trụ hình chữ nhật đỡ trên hộp đàn. Do hai hàng dây đàn đồng âm với nhau, khi gảy bản nhạc có [[giai điệu]] nhanh và âm rộng, dễ đánh vì có thể dùng cả hai tay. Hơn nữa không hầu có thể dùng dạo và đệm nhạc trong tầm âm vừa, một ưu điểm mà các loại nhạc cụ khác khó sánh bằng. Âm sắc không hầu và đàn hạc phương Tây hoàn toàn khác nhau.
 
Không hầu sau du nhập sang Hàn Quốc với tên ''gonghu'' ([[hangul]]: 공후; [[hanja]]: 箜篌) rồi sau đó cũng thất truyền ở Hàn. ''Gonghu'' có ba loại:
Không hầu Trung Hoa cũng được
*Sogonghu (hangul: 소공 후; hanja: 小箜篌; nghĩaâm đenHán Việt: "tiểu không hầu", nghĩa là "đàn hạc nhỏ")
du nhập, sử dụng vào thời cổ đại ở Hàn Quốc, nơi nó được gọi là gonghu (hangul: 공후; hanja: 箜篌), nhưng nó không còn được sử dụng phổ biến nữa. Có ba kiểu gonghu sau:
*Sugonghu (hangul: 수공후; hanja: 豎箜篌; nghĩa"thụ đenkhông hầu" tức "đàn hạc dọc")
*Wagonghu (hangul: 와공후; hanja: 臥箜篌; nghĩa"ngọa đenkhông hầu" tức "đàn hạc nằm ngang").
 
Ở [[Nhật Bản]] thì có ''kudaragoto'' (百済琴/くだらごと; âm Hán Việt: "Bách Tề cầm"), còn được gọi là ''kugo'' (箜篌/くご; "không hầu"). Đàn này là nhạc cụ tấu trong ''Tōgaku'' ("Đường nhạc" tức "nhạc nhà Đường") thời kỳ Nara. Đến [[thế kỷ thứ 10]] thì thất truyền. Sau này ''kugo'' lại được hồi sinh. [[:en:Tomoko Sugawara|Sugawara Tomoko]] dùng ''kugo'' hòa tấu với nghệ sĩ Bill Campbell. Bà được đề cử Giải thưởng âm nhạc độc lập cho album năm 2010 dưới tên ''Along the Silk Road'' gồm các tác phẩm truyền thống và mới được viết cho ''kugo''. Nhạc sĩ Mamoru Fujieda thì có soạn riêng những tác phẩm cho ''kugo''.
*Sogonghu (hangul: 소공 후; hanja: 小箜篌; nghĩa đen là "đàn hạc nhỏ")
*Sugonghu (hangul: 수공후; hanja: 豎箜篌; nghĩa đen là "đàn hạc dọc")
*Wagonghu (hangul: 와공후; hanja: 臥箜篌; nghĩa đen là "đàn hạc nằm ngang")
 
Người Altai ở [[Mông Cổ]] có một loại đàn hạc tương tự, gọi là Altaihạc harpcầm Altai. Thiết kế của nóđàn dùng đầu con [[sơn dương]] sừng cong, thân đàn nằm ngang, loạiđàn nhỏ có 6 dây, đàn lớn có 14 dây. và dâyDây đàn được nối từ khoảng giữ củagiữa sừng sơn dương xuống thân.
Tương tự, kudaragoto (百済琴/くだらごと), còn được gọi là kugo (箜篌/くご) của Nhật Bản đã được sử dụng trong một số buổi biểu diễn Togaku (nhạc Tang) trong thời kỳ Nara, nhưng dường như đã tuyệt chủng trong thế kỷ thứ 10. Nó gần đây đã được hồi sinh ở Nhật Bản, và nhà soạn nhạc Nhật Bản Mamoru Fujieda đã sáng tác cho nó.
 
[[:en:Tomoko Sugawara|Sugawara Tomoko]] đã "hồi sinh" một cây đàn kugo có thể chơi được với nghệ sĩ Bill Campbell và nhận được đề cử Giải thưởng âm nhạc độc lập cho album năm 2010 của bà là Along the Silk Road, chơi các tác phẩm truyền thống và mới được viết cho kugo.
 
Người Altai ở [[Mông Cổ]] có một loại đàn hạc tương tự, gọi là Altai harp. Thiết kế của nó là đầu con sơn dương sừng cong, thân đàn nằm ngang loại nhỏ có 6 dây, lớn có 14 dây và dây đàn được nối từ khoảng giữ của sừng sơn dương xuống thân.
 
== Đặc điểm cấu tạo ==