Khác biệt giữa các bản “Cơ học lượng tử”

không có tóm lược sửa đổi
Có ít các nghiệm giải tích của phương trình Schrödinger được biết một cách chính xác, chúng chủ yếu là nghiệm của các mô hình Hamilton tương đối đơn giản bao gồm [[dao động tử điều hòa lượng tử]] (quantum harmonic oscillator), [[hạt trong một hộp]], [[cation hydro phân tử]], và [[nguyên tử hydro]]. Ngay cả với nguyên tử [[heli]] – mà chỉ chứa có hai electron – hiện vẫn chưa có nghiệm giải tích chính xác miêu tả cho hệ này.
 
Tuy vậy đã có những kỹ thuật để tìm các nghiệm xấp xỉ. Một phương pháp gọi là [[Lý thuyết nhiễu loạn (cơ học lượng tử)|lý thuyết nhiễu loạn]], sử dụng kết quả giải tích của một một hình cơ học lượng tử đơn giản nhằm tạo ra kết quả cho những mô hình liên quan phức tạp hơn (ví dụ) bằng cách thêm vào một [[thế năng]] yếu. Một phương pháp khác gọi là "phương trình chuyển động bán cổ điển", áp dụng cho các hệ mà cơ học lượng tử chỉ tạo ra những chênh lệch nhỏ so với hệ cổ điển. Những chênh lệch nhỏ này khi ấy có thể được tính từ những chuyển động cổ điển. Cách tiếp cận này đặc biệt quan trọng trong [[lý thuyết hỗn loạn lượng tử]] (quantum chaos).
 
Một phương pháp toán học thay thế cơ học lượng tử là [[công thức tích phân lộ trình]] [[Richard Feynman|Feynman]], trong đó, biên độ cơ học lượng tử được coi là tổng theo tất cả các lịch sử giữa trạng thái đầu và cuối; nó tương đương với [[nguyên lý tác dụng tối thiểu]] trong cơ học cổ điển.
 
=== Mối liên hệ với các lý thuyết khoa học khác ===