Khác biệt giữa các bản “Cơ học lượng tử”

không có tóm lược sửa đổi
Như miêu tả ở trên, vướng víu lượng tử là một đặc trưng quan trọng của các tiến trình đo trong đó một thiết bị trở lên vướng víu với hệ được đo. Các hệ tương tác với môi trường mà chúng nằm trong thông thường bị vướng víu với môi trường đó, một hiện tượng được gọi là [[sự mất kết hợp lượng tử]] (quantum decoherence). Điều này giải thích tại sao, trong thực hành, các hiệu ứng lượng tử trở lên khó quan sát ở những hệ lớn hơn cấp độ vi mô.<ref>{{Cite journal|last=Schlosshauer|first=Maximilian|date=October 2019|title=Quantum decoherence|journal=Physics Reports|language=en|volume=831|pages=1–57|arxiv=1911.06282|bibcode=2019PhR...831....1S|doi=10.1016/j.physrep.2019.10.001}}</ref>
 
===Sự tương đương giữa các hình thức luận===
== Ứng dụng của cơ học lượng tử ==
Có nhiều hình thức luận toán học tương đương trong cơ học lượng tử. Một trong những hình thức luận lâu đời nhất và phổ biến nhất đó là "[[lý thuyết biến đổi (cơ học lượng tử)|lý thuyết biến đổi]]" do [[Paul Dirac]] đưa ra, lý thuyết này thống nhất và tổng quát hóa hai hình thức luận sớm nhất của cơ học lượng tử&nbsp;– [[cơ học ma trận]] (do [[Werner Heisenberg]], [[Max Born]], và [[Pascual Jordan]] đưa ra) và [[phương trình Schrödinger|cơ học sóng]] (bởi [[Erwin Schrödinger]]).<ref>{{cite journal|url=http://www.actaphys.uj.edu.pl/fulltext?series=Reg&vol=19&page=683
|title= Erwin Schrödinger and the creation of wave mechanics |journal= Acta Physica Polonica B |volume=19 |issue=8 |pages= 683–695
|format=PDF
|last= Rechenberg |first= Helmut |year= 1987 |access-date=13 June 2016 }}</ref> Một hình thức luận khác của cơ học lượng tử đó là [[hình thức luận tích phân lộ trình]] của [[Feynman]], trong đó một biên độ xác suất cơ học lượng tử được xem như là tổng của tất cả các đường đi khả dĩ cổ điển và phi cổ điển giữa trạng thái ban đầu và trạng thái cuối cùng. Hình thức luận của Feynman được xem là dạng tương đương của [[tác dụng (vật lý học)|nguyên lý tác dụng]] trong cơ học cổ điển.
 
Cơ học lượng tử đã đạt được các thành công vang dội trong việc giải thích rất nhiều các đặc điểm của thế giới chúng ta. Tất cả các tính chất riêng biệt của các hạt vi mô tạo nên tất cả các dạng [[vật chất]] đó là [[electron|điện tử]], [[proton]], [[neutron]],... chỉ có thể được mô tả bằng cơ học lượng tử.
 
Cơ học lượng tử còn quan trọng trong việc tìm hiểu các nguyên tử riêng biệt kết hợp với nhau để tạo nên các chất như thế nào. Việc áp dụng cơ học lượng tử vào [[hóa học]] được gọi là [[hóa học lượng tử]]. Cơ học lượng tử có thể cho phép nhìn sâu vào các quá trình liên kết hóa học bằng việc cho biết các [[phân tử]] ở các trạng thái có lợi về năng lượng như thế nào so với các trạng thái và làm sao mà chúng khác nhau. Phần lớn các tính toán được thực hiện trong [[hóa tin học|hóa học tính toán]] dựa trên cơ học lượng tử.