Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Cơ học lượng tử”

không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
 
Năm 1838, [[Michael Faraday]] khám phá ra [[tia âm cực]]. Những nghiên cứu này được theo sau bởi tuyên bố năm 1859 về vấn đề [[bức xạ vật đen]] của [[Gustav Kirchhoff]], đề xuất năm 1877 của [[Ludwig Boltzmann]] rằng trạng thái năng lượng của một hệ vật chất có thể rời rạc, và giả thuyết lượng tử năm 1900 của [[Max Planck]].<ref>{{cite book |first1=J. |last1=Mehra |first2=H. |last2=Rechenberg |title=The Historical Development of Quantum Theory, Vol. 1: The Quantum Theory of Planck, Einstein, Bohr and Sommerfeld. Its Foundation and the Rise of Its Difficulties (1900–1925)|location=New York |publisher=Springer-Verlag |year=1982 |isbn=978-0387906423 }}</ref> Giả thuyết của Planck rằng năng lượng được bức xạ và hấp thụ trong các "lượng tử" (hay gói năng lượng) rời rạc khớp chính xác với các dạng bức xạ vật đen quan sát được. Từ ''lượng tử'' bắt nguồn từ [[tiếng Latinh]], có nghĩa là "lớn như thế nào" hoặc "bao nhiêu".<ref>{{cite web|title=Quantum – Definition and More from the Free Merriam-Webster Dictionary|url=http://www.merriam-webster.com/dictionary/quantum|access-date=18 August 2012|publisher=Merriam-webster.com}}</ref> Theo Planck, các đại lượng năng lượng có thể được coi chia thành các "phần tử" có độ lớn (''E'') tỷ lệ với [[tần số]] (''ν'') của chúng:
:<math> E = h \nu\ </math>,
với ''h'' là [[hằng số Planck]]. Planck thận trọng nhấn mạnh rằng đây chỉ là một khía cạnh của quá trình hấp thụ và phát xạ bức xạ và không phải là ''thực tại vật lý'' của bức xạ.<ref>{{cite book|last=Kuhn|first=T. S.|title=Black-body theory and the quantum discontinuity 1894–1912|publisher=Clarendon Press|year=1978|isbn=978-0195023831|location=Oxford|author-link=Thomas Samuel Kuhn}}</ref> Trên thực tế, ông coi giả thuyết lượng tử của mình là một thủ thuật toán học để có được câu trả lời đúng hơn là một khám phá lớn.<ref name="Kragh">{{cite web|last=Kragh|first=Helge|author-link=Helge Kragh |title=Max Planck: the reluctant revolutionary|date=1 December 2000|url=https://physicsworld.com/a/max-planck-the-reluctant-revolutionary/|website=[[Physics World]] |access-date=12 December 2020}}</ref> Tuy nhiên, vào năm 1905, [[Albert Einstein]] đã giải thích giả thuyết lượng tử của Planck một cách [[nghịch lý EPR|thực tế]] và sử dụng nó để giải thích [[hiệu ứng quang điện]], trong đó việc chiếu ánh sáng vào một số vật liệu nhất định có thể đẩy electron ra khỏi vật liệu. [[Niels Bohr]] sau đó đã phát triển ý tưởng của Planck về bức xạ thành một [[mô hình Bohr|mô hình nguyên tử hydro]] mà đã dự đoán thành công các [[vạch quang phổ]] của hydro.<ref>{{cite book|last=Stachel |first=John |author-link=John Stachel |year=2009 |chapter=Bohr and the Photon |title=Quantum Reality, Relativistic Causality and the Closing of the Epistemic Circle |series=The Western Ontario Series in Philosophy of Science |volume=73 |location=Dordrecht |publisher=Springer |pages=69–83 |doi=10.1007/978-1-4020-9107-0_5|isbn=978-1-4020-9106-3 }}</ref> Einstein phát triển thêm ý tưởng này để chỉ ra rằng một [[sóng điện từ]] như ánh sáng cũng có thể được mô tả như dạng hạt (sau này được gọi là [[photon]]), với một lượng năng lượng rời rạc phụ thuộc vào tần số của nó.<ref>{{cite journal|last=Einstein|first=A.|year=1905|title=Über einen die Erzeugung und Verwandlung des Lichtes betreffenden heuristischen Gesichtspunkt|trans-title=On a heuristic point of view concerning the production and transformation of light|journal=[[Annalen der Physik]]|volume=17|issue=6|pages=132–148|bibcode=1905AnP...322..132E|doi=10.1002/andp.19053220607|doi-access=free}} Reprinted in {{cite book|title=The Collected Papers of Albert Einstein |editor-first=John |editor-last=Stachel |editor-link=John Stachel |publisher=Princeton University Press |year=1989 |volume=2 |pages=149–166 |language=de}} See also "Einstein's early work on the quantum hypothesis", ibid. pp. 134–148.</ref> Trong bài báo của ông "Về lý thuyết lượng tử của bức xạ," Einstein đã mở rộng sự tương tác giữa năng lượng và vật chất để giải thích sự hấp thụ và phát xạ năng lượng của các nguyên tử. Mặc dù vào thời điểm đó, thuyết tương đối rộng của ông đã làm lu mờ vấn đề này, bài báo này đã trình bày rõ cơ chế cơ bản của sự phát xạ kích thích,<ref>{{cite journal|first=Albert |last=Einstein |author-link=Albert Einstein |year=1917 |title=Zur Quantentheorie der Strahlung|trans-title=On the Quantum Theory of Radiation|language=de |journal=[[Physikalische Zeitschrift]] |volume=18 |pages=121–128}} Translated in {{cite book|title=The Old Quantum Theory|date=1967|pages=167–183|chapter=On the Quantum Theory of Radiation|publisher=Elsevier|doi=10.1016/b978-0-08-012102-4.50018-8|isbn=9780080121024|last1=Einstein|first1=A.}}</ref> mà trở thành cơ chế cơ bản của [[laser]] về sau.
 
== Xem thêm ==