Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Cơ học lượng tử”

không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Thêm một hay nhiều mục vào danh sách
Không có tóm lược sửa đổi
 
Giai đoạn này được biết đến như là [[thuyết lượng tử cũ]]. Không bao giờ hoàn chỉnh hoặc tự nhất quán, lý thuyết lượng tử cũ đúng hơn là một tập hợp các hiệu chỉnh [[heuristic]] đối với [[cơ học cổ điển]].<ref>{{cite book|last=ter Haar|first=D.|url=https://archive.org/details/oldquantumtheory0000haar|title=The Old Quantum Theory|publisher=Pergamon Press|year=1967|isbn=978-0-08-012101-7|pages=[https://archive.org/details/oldquantumtheory0000haar/page/206 206]|url-access=registration}}</ref> Lý thuyết hiện nay được hiểu là một [[xấp xỉ WKB|phép gần đúng bán cổ điển]]<ref>{{cite web|title=Semi-classical approximation|url=https://www.encyclopediaofmath.org/index.php?title=Semi-classical_approximation|access-date=1 February 2020|website=Encyclopedia of Mathematics}}</ref> đối với cơ học lượng tử hiện đại.<ref>{{cite book|last1=Sakurai|first1=J. J.|title=Modern Quantum Mechanics|title-link=Modern Quantum Mechanics|last2=Napolitano|first2=J.|publisher=Pearson|year=2014|isbn=978-1-292-02410-3|chapter=Quantum Dynamics|oclc=929609283|author-link1=J. J. Sakurai}}</ref> Các kết quả đáng chú ý từ thời kỳ này bao gồm, ngoài công trình của Planck, Einstein và Bohr đã đề cập ở trên, công trình của Einstein và [[Peter Debye]] về [[nhiệt dung riêng]] của chất rắn, [[định lý Bohr–Van Leeuwen|chứng minh]] của Bohr và [[Hendrika Johanna van Leeuwen]] rằng vật lý cổ điển không thể giải thích cho hiện tượng [[nghịch từ]], và sự mở rộng của [[Arnold Sommerfeld]] về mô hình Bohr để bao gồm các hiệu ứng tương đối tính đặc biệt.
 
[[Tập tin:Solvay conference 1927.jpg|left|thumb|upright=1.15|[[Hội nghị Solvay]] năm 1927 tại [[Brussels]] là hội nghị vật lý thế giới lần thứ năm.]]
Vào giữa những năm 1920, cơ học lượng tử đã được phát triển để trở thành lý thuyết tiêu chuẩn cho vật lý nguyên tử. Năm 1923, nhà vật lý người Pháp [[Louis de Broglie]] đưa ra lý thuyết của mình về sóng vật chất bằng cách phát biểu rằng các hạt có thể biểu hiện các đặc tính của sóng và ngược lại. Dựa trên cách tiếp cận của de Broglie, cơ học lượng tử hiện đại ra đời vào năm 1925, khi các nhà vật lý người Đức [[Werner Heisenberg]], [[Max Born]], và [[Pascual Jordan]]<ref name=Edwards79>David Edwards,''The Mathematical Foundations of Quantum Mechanics'', Synthese, Volume 42, Number 1/September, 1979, pp.&nbsp;1–70.</ref><ref name=Edwards81>D. Edwards, ''The Mathematical Foundations of Quantum Field Theory: Fermions, Gauge Fields, and Super-symmetry, Part I: Lattice Field Theories'', International J. of Theor. Phys., Vol. 20, No. 7 (1981).</ref> phát triển [[cơ học ma trận]] và nhà vật lý người Áo [[Erwin Schrödinger]] phát minh ra [[phương trình Schrödinger|cơ học sóng]]. Born đã giới thiệu cách giải thích xác suất của hàm sóng Schrödinger vào tháng 7 năm 1926.<ref>{{Cite journal|last=Bernstein|first=Jeremy|author-link=Jeremy Bernstein|date=November 2005|title=Max Born and the quantum theory|journal=[[American Journal of Physics]]|language=en|volume=73|issue=11|pages=999–1008|doi=10.1119/1.2060717|issn=0002-9505}}</ref> Do đó, toàn bộ lĩnh vực vật lý lượng tử đã xuất hiện, dẫn đến việc nó được chấp nhận rộng rãi hơn tại [[hội nghị Solvay]] lần thứ năm vào năm 1927.<ref name="pais1997">{{cite book |last=Pais |first=Abraham |author-link=Abraham Pais |title = A Tale of Two Continents: A Physicist's Life in a Turbulent World |year=1997 |publisher = Princeton University Press |location = Princeton, New Jersey |isbn = 0-691-01243-1 |url-access = registration |url = https://archive.org/details/taleoftwocontine00pais }}</ref>
 
== Xem thêm ==