Khác biệt giữa các bản “Nguyễn Văn Thiệu”

n
==== Triệt thoái Cao nguyên Trung phần ====
[[Tập tin:HCMC3.jpg|thumb|trái|upright|Bản đồ tái phối trí lực lượng của Tổng thống Thiệu]]
Ngày 11 tháng 3 năm 1975, sau khi kết luận rằng không còn hy vọng nhận được gói viện trợ quân việnsự trị giá 300 triệu đô la Mỹ từ Hoa Kỳ,{{sfnp|Willbanks|2004|p=232}}{{sfnp|Cao Văn Viên|1983|p=76}} Nguyễn Văn Thiệu đã cho mời ba cố vấn quân sự thân cận nhất của mình là Thủ tướng [[Trần Thiện Khiêm]], Đại tướng [[Cao Văn Viên]] và Trung tướng [[Đặng Văn Quang (tướng)|Đặng Văn Quang]] đến [[Dinh Độc Lập]] để họp.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=51}}{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=48–49}} Sau khi phân tích tình hình, ông Thiệu lấy ra một tấm bản đồ quốc gia khổ nhỏ và bàn luận về việc tái phối trí lực lượng và "co cụm" lãnh thổ để "bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thật sự quan trọng."{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=49}}{{sfnp|Davidson|1991|p=774}}
 
Trên bản đồ, Nguyễn Văn Thiệu khoanh vùng những khu vực mà ông cho là quan trọng nhất, trong đó bao gồm toàn bộ Vùng III và Vùng IV chiến thuật với cả thềm lục địa, nơi có những giếng dầu mới được phát hiện.{{sfnp|Davidson|1991|p=776}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=235}} Ông cũng chỉ ra những khu vực hiện đang nằm dưới sự kiểm soát của Quân Giải phóng cần phải được chiếm lại bằng mọi giá, vì đây là nơi tập trung của các nguồn tài nguyên như gạo, cao su và khu công nghiệp.{{sfnp|Willbanks|2004|p=235}} Theo ông, những khu vực này vẫn đủ để Việt Nam Cộng hòa tồn tại và phát triển thành một quốc gia riêng.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=357}} Đối với Vùng I và Vùng II chiến thuật, ông Thiệu vẽ một số vạch cắt ngang các vùng duyên hải, cho rằng Quân lực Việt Nam Cộng hòa nên giữ những gì có thể giữ, tùy theo khả năng, nhưng có thể rút lui về phía Nam nếu cần thiết. Đây là chiến lược mà ông Thiệu gọi là "đầu bé, đít to" – thả lỏng phần trên, giữ chặt phần dưới.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=357}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=235}}
 
Ngày 14 tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu cùng 3 người trên bay tới Cam Ranh để gặp Thiếu tướng [[Phạm Văn Phú]], Tư lệnh Quân đoàn II.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=359}} Ông Thiệu quyết định rằng mục tiêu ưu tiêu của Quân đoàn II là tái chiếm Buôn Mê Thuột,{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=54}} cho rằng nơi này quan trọng hơn Pleiku và Kon Tum cả về mặt kinh tế lẫn nhân khẩu.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=52}} Sách lược của ông là tập trung tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của [[Quân đội nhân dân Việt Nam]], trong đó có [[Sư đoàn 320, Quân đội nhân dân Việt Nam|Sư đoàn 320]] thiện chiến chiếm giữ Buôn Ma Thuột, thay vì đối đầu với các toán du kích của Quân Giải phóng.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=360}} Nhằm tạo yếu tố bất ngờ, tướng Phú quyết định rút lui về phía biển theo Tỉnh lộ 7B, một con đường nhỏ, hư hỏng nặng, trước khi triển khai lực lượng và tiến hành chiến dịch tái chiếm Buôn Mê Thuột.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|Schecter|1990|p=361}}{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=54–58}}
 
Các tướng lĩnh được lệnh giữ bí mật, không được để cho phía Hoa Kỳ biết.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=60}} Cuộc rút lui quy mô lớn với hàng trăm nghìn quân nhân và thường dân được dự đoán sẽ rất nguy hiểm. Tuy nhiên, nó đã được tổ chức một cách vội vã mà không có kế hoạch cụ thể, dẫn tới sự thiếu phối hợp giữa các bên. Nhiều sĩ quan cao cấp không hề hay biết về lệnh triệtrút thoáiquân, một số đơn vị bị bỏ lại sau hoặc rút lui một cách rời rạc.{{sfnp|Davidson|1991|p=777–78}} Sự việc càng trở nên nghiêm trọng khi đoàn xe vận tải bị trễ ba ngày do cầu bị hỏng.{{sfnp|Willbanks|2004|p=239}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=242}} Quân Giải phóng được lệnh truy kích, đến ngày 18 tháng 3 năm 1975 thì đuổi kịp đoàn xe, gây ra tổn thất nghiêm trọng.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=58}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=242–43}}
 
Ngày 18 tháng 3 năm 1975, lực lượng Biệt động quân Việt Nam Cộng hòa cùng thiết xa đánh chặn vô tình bị không quân oanh tạc nhầm, phải hứng chịu thương vong lớn.{{sfnp|Nguyễn Tiến Hưng|2010|p=59–60}}{{sfnp|Davidson|1991|p=778}} Lợi dụng lợi thế về mặt số lượng, Quân Giải phóng tiến hành truy kích, đánh phá đoàn di tản.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=60}} Sau 9 ngày, chỉ có 20.000 trong số tổng cộng 60.000 quân và 25% trong số 180.000 thường dân tham gia di tản đến được [[Tuy Hòa]] vào ngày 27 tháng 3.{{sfnp|Hosmer|Kellen|Jenkins|1980|p=96}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=245}} Lệnh di tản của ông Thiệu đến quá trễ đã biến cuộc triển khai này trở thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn, tạo nên một "con đường máu" cùng với cái chết hoặc sự ly tán của hơn 150.000 người.{{sfnp|Willbanks|2004|p=245}} Sau chiến thắng với tầm mức không ngờ, Quân Giải Phóng đã hoàn toàn làm chủ toàn bộ Cao nguyên Trung phần{{sfnp|Willbanks|2004|p=252–55}} trong khi chiến dịch phản công nhằm chiếm lại Buôn Ma Thuột của Quân lực Việt Nam Cộng hòa không bao giờ được hiện thực hóahiện sau thất bại, Quân đoàn II chỉ còn lại 25% binh lực so với ban đầu.{{sfnp|Dougan|Fulghum|1985|p=63}}{{sfnp|Willbanks|2004|p=243}}
 
==== Sụp đổ dây chuyền ====