Khác biệt giữa các bản “Bánh mì kẹp”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Trình soạn thảo mã nguồn 2017 Đã được lùi sửa
Thẻ: Trình soạn thảo mã nguồn 2017 Đã được lùi sửa
| other =
}}
'''Bánh mì kẹp''' hoặc '''bánh mì lát''' ([[tiếng Anh]]: ''sandwich'') là một loại thực phẩm thường bao gồm [[Rau diếp|rau]], [[pho mát]] hoặc thịt cắt lát, được đặt trên hoặc giữa các lát bánh mì, hoặc nói chung là bất kỳ món ăn nào trong đó bánh mì dùng làm lớp ngoài hoặc bao bọc cho một loại thực phẩm khác.<ref name="boston.com">{{cite news |last=Abelson |first=Jenn |url=http://www.boston.com/business/articles/2006/11/10/arguments_spread_thick/ |url-access=subscription |title=Arguments spread thick |work=[[The Boston Globe]] |date=10 November 2006 |access-date=27 May 2009 |archive-url=https://web.archive.org/web/20081207062109/http://www.boston.com/business/articles/2006/11/10/arguments_spread_thick |archive-date=2008-12-07 |url-status=live}}</ref><ref>{{cite web|title=sandwich|url=http://www.merriam-webster.com/dictionary/sandwich|work=Merriam-Webster|publisher=Merriam-Webster, Incorporated|access-date=29 March 2012}}</ref><ref>{{cite book|title=Foundations of Restaurant Management & Culinary Arts Level Two|year=2011|publisher=Pearson|isbn=978-0-13-138022-6|page=53}}</ref> Bánh mì sandwich bắt đầu như một món ăn ''finger food'' (ăn bằng tay) ở thế giới [[Châu Âu|phương Tây]], mặc dù theo thời gian, nó đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới.
 
Bánh mì kẹp là một loại thức [[Bữa ăn trưa|ăn trưa]] phổ biến, được mang [[Công việc chuyên môn|đi làm]], [[đi học]] hoặc đi dã ngoại để ăn như một phần của bữa trưa đóng hộp chế biến sẵn. Bánh ở đây có thể dùng các lát bánh mì trắng hoặc được phủ một lớp [[gia vị]], chẳng hạn như sốt[[xốt]] [[mayonnaise]] hoặc mù tạt, để tăng hương vị và độ kết dính giữa các lát bánh. Ngoài việc được làm tại nhà, bánh mì kẹp cũng được bán rộng rãi ở nhiều cửa hàng [[bán lẻ]] khác nhau và có thể được phục vụ nóng hoặc nguội.<ref>{{cite book|title=Foundations of Restaurant Management & Cullinary Arts Level Two|year=2011|publisher=Pearson|isbn=978-0-13-138022-6|page=53}}</ref><ref>{{cite book|title=Becoming a Foodservice professional Year 1|year=1999|publisher=National Restaurant Association Educational Foundation|isbn=1-883904-87-0|page=306|url=https://archive.org/details/prostartschoolto0000unse|url-access=registration}}</ref> Có cả bánh sandwich mặn, chẳng hạn như bánh mì [[Giăm bông|thịt nguội]] và bánh mì ngọt, chẳng hạn như bánh mì [[bơ đậu phộng]] và bánh mì thạch.
 
Bánh mì kẹp được đặt theo tên người phát minh ra nó, John Montagu, Bá tước Sandwich thứ 4.<ref name="What's Cooking America">[http://whatscookingamerica.net/History/SandwichHistory.htm What's Cooking America], ''Sandwiches, History of Sandwiches''. 2 February 2007.</ref><ref name="BBC News Online">{{cite news| title = Sandwich celebrates 250th anniversary of the sandwich | url = https://www.bbc.co.uk/news/uk-england-kent-18010424 |work = [[BBC News Online]] | date = 12 May 2012 | access-date = 18 May 2012}}</ref> ''[[The Wall Street Journal|Tờ thời báo Phố Wall]]'' đã mô tả đây là "đóng góp lớn nhất trong lĩnh vực ẩm thực" của nước Anh.<ref>{{Cite news |url=https://www.independent.co.uk/news/blt-british-lousy-and-tasteless-1261881.html |title=BLT: British, lousy and tasteless |last=Marks |first=Kathy |newspaper=The Independent |location=London |date=17 May 1997}}</ref>
Khái niệm hiện đại về bánh mì kẹp sử dụng các lát bánh mì được tìm thấy ở phương Tây có thể được cho là bắt nguồn từ châu Âu thế kỷ 18. Tuy nhiên, việc sử dụng một số loại bánh mì hoặc chất giống như bánh mì để nằm dưới (hoặc dưới và phủ lên) một số thực phẩm khác, hoặc được sử dụng để xúc và bọc hoặc bọc một số loại thực phẩm khác, đã có từ rất lâu trước thế kỷ thứ mười tám, và là được tìm thấy trong nhiều nền văn hóa lâu đời hơn trên toàn thế giới.
 
Nhà hiền triết người Do Thái cổ đại Hillel the Elder được cho là đã gói [[thịt cừu]] trong [[lễ Vượt Qua]] và các loại [[Hương liệu|thảo mộc]] đắng trong một chiếc bánh mềm - bánh phẳng, không men - trong Lễ Vượt Qua theo cách bọc hiện đại được làm bằng bánh mì dẹt.<ref>''[[Bavli]]'' ''[[Pesachim]]'' 115a;<!-- verse? --> See also Passover Hagadah <!-- which one? --></ref> Từ lâu, bánh mì dẹt chỉ có các loại khác nhau một chút đã được sử dụng để xúc hoặc gói một lượng nhỏ thức ăn trên đường từ đĩa đến miệng ở khắp Tây Á và Bắc Phi. Từ [[Maroc|Ma-rốc]] đếnrồi sang [[Ethiopia]] đến Ấn Độ, bánh mì được nướng thành những hình tròn dẹt, tương phản với truyền thống làm bánh mì dài của châu Âu.
 
Trong [[Trung Cổ|thời Trung cổ]] ở châu Âu, những phiến bánh mì thô và thường là bánh mì cũ, được gọi là "''thớt cắt bánh mì''", được dùng làm đĩa.<ref>{{cite book|title=Banquets set forth: banqueting in English Renaissance drama|first=Chris|last=Meads|publisher=Manchester University Press|year=2001|page=47|isbn=0-7190-5567-9}}</ref> Sau bữa ăn, những chiếc sơn hào hải vị có lẽ được phân phát cho người hầu hoặc người nghèo. Tiền thân của ẩm thực có mối liên hệ trực tiếp với món bánh mì kẹp Anh đã được tìm thấy ở Hà Lan vào thế kỷ XVII, nơi nhà tự nhiên học John Ray đã quan sát thấy<ref>{{cite book |last1=Ray |first1=John |title=Observations topographical, moral, & physiological; made in a journey through part of the Low Countries, Germany, Italy, and France … |date=1673 |publisher=John Martyn |location=London, England |page=[https://archive.org/details/observationstopo00rayj/page/51 51] |url=https://archive.org/details/observationstopo00rayj}}</ref><ref>Ray, ''Observations topographical, moral, & physiological; made in a journey through part of the Low Countries, Germany, Italy, and France …'' (vol. I, 1673) quoted in [[Simon Schama]], ''[[The Embarrassment of Riches: An Interpretation of Dutch Culture in the Golden Age|The Embarrassment of Riches]]'' (1987:152).</ref> rằng trong quán rượu, thịt bò được treo trên xà nhà "họ cắt thành từng lát mỏng và ăn với bánh mì và bơ đặt từng lát lên trên bơ" —các thông số kỹ thuật cho thấy món bánh mì mởbắt ranguồb từ tên gọi ''belegde broodje'' của Hà Lan, vẫn chưa hề xa lạ ở Anh.
 
Ban đầu được coi là thứcthực ănphẩm phái nam giới cùng ăn khi chơi [[Tiêu khiển|trò tiêu khiển]] và uống rượu vào ban đêm, bánh mì sandwich dần dần bắt đầu xuất hiện trong xã hội lịch sự như một bữa ăn khuya của tầng lớp quý tộc. Bánh sandwich được đặt theo tên của John Montagu, Bá tước thứ 4 của Sandwich, một quý tộc Anh thế kỷ mười tám. Người ta nói rằng anh ta đã ra lệnh cho người hầu của mình để mang cho ông ta phần thịt kẹp giữa hai miếng bánh mì.<ref name="What's Cooking America"/><ref name="BBC News Online"/> Người ta thường nói rằng Lãnh chúa vùng Sandwich thích hình thức thức ăn này vì nó cho phép ông ta tiếp tục chơi bài, đặc biệt là bài cribbage, trong khi ăn mà không cần dùng nĩa và không bị dính dầu mỡ khi ăn thịt bằng tay không.<ref name="What's Cooking America"/> Sự lan truyền ở dạng quen thuộc về món ăn này xuất hiện trong cuốn Londres (Neuchâtel, 1770) của Pierre-Jean Grosley, được dịch là Chuyến du lịch đến London năm 1772. <ref>[http://www.faktoider.nu/sandwich.html Hexmasters Faktoider: Sandwich]: English quotes from Grosley 1772</ref> Ấn tượng của Grosley đã được hình thành trong một năm ở London vào năm 1765. Sự thay thế tỉnh táo được cung cấp bởi người viết tiểu sử của Sandwich, N. A. M. Rodger, người gợi ý những cam kết của Sandwich đối với hải quân, đối với chính trị và nghệ thuật, có nghĩa là chiếc bánh sandwich đầu tiên có nhiều khả năng đã được tiêu thụ tại bàn làm việc của mình.
 
Sự phổ biến của bánh mì kẹp ở Tây Ban Nha và Anh đã tăng lên đáng kể trong thế kỷ 19, khi sự trỗi dậy của xã hội công nghiệp và tầng lớp lao động khiến những bữa ăn nhanh, dễ di chuyển và rẻ tiền trở nên thiết yếu.<ref name=encyc>''Encyclopedia of Food and Culture'', Solomon H. Katz, editor (Charles Scribner's Sons: New York) 2003</ref> Ví dụ, ở Luân Đôn, ít nhất bảy mươi người bán hàng rong đã bán bánh mì thịt nguội vào năm 1850; trong suốt thập kỷ đó, các quán bánh mì sandwich cũng trở thành một hình thức ăn uống quan trọng ở miền tây Hà Lan, thường phục vụ bánh mì kẹp thịt bò muối và gan.<ref>{{cite book|title=The Oxford Companion to Food|author=Alan Davidson and Tom Jaine|year=2014|publisher=Oxford University Press|isbn=978-0199677337|page=712|url=https://books.google.com/books?id=RL6LAwAAQBAJ}}</ref>