Khác biệt giữa các bản “Bánh mì kẹp”

→‎Lịch sử: Sửa chính tả/ngữ pháp
n (Reverted to revision 64414655 by Baoothersks (talk): Quá nhiều lỗi dịch)
Thẻ: Lùi sửa
(→‎Lịch sử: Sửa chính tả/ngữ pháp)
Thẻ: Trình soạn thảo mã nguồn 2017
 
==Lịch sử==
Khái niệm hiện đại về bánh mì kẹp sử dụng các lát bánh mì được tìm thấy ở phương Tây có thể được cho là bắt nguồn từ châu Âu thế kỷ 18. Tuy nhiên, việc sử dụng một số loại bánh mì hoặc chất giống như bánh mì để nằm dưới (hoặc dưới và phủ lên) một số thực phẩm khác, hoặc được sử dụng để xúc và bọc hoặc bọc một số loại thực phẩm khác, đã có từ rất lâu trước thế kỷ thứ mười tám, và là được tìm thấy trong nhiều nền văn hóa lâu đời hơn trên toàn thế giới.
Hình thức bánh mì kẹp đầu tiên được cho là do hiền nhân [[Do Thái giáo|Do Thái]] cổ [[Hillel]], người ta cho rằng ông kẹp thịt [[cừu nhà|cừu]] và những rau đắng (''[[maror]]'') vào bánh ''[[matzo]]'' (hay bánh bằng phẳng [[Bánh không men|không men]]) để ăn mừng [[lễ Vượt Qua]]. Đồ kẹp vào giữa hai miếng ''matzo'' nhắc những [[người Do Thái]] về việc phải xây dựng những tòa nhà [[Ai Cập cổ đại|Ai Cập]]. Vì thế, người [[La Mã cổ]] gọi món ăn này là ''cibus Hilleli'', hay bữa nhỏ của Hillel.<ref>[[Varro Atacinus]] viết rằng "cibus Hilleli est illa caesna quo panis sive caseum sive carnem sepit buturoque saepe operitur."</ref>
 
Nhà hiền triết người Do Thái cổ đại Hillel the Elder được cho là đã gói [[thịt cừu]] trong [[lễ Vượt Qua]] và các loại [[Hương liệu|thảo mộc]] đắng trong một chiếc bánh mềm - bánh phẳng, không men - trong Lễ Vượt Qua theo cách bọc hiện đại được làm bằng bánh mì dẹt.<ref>''[[Bavli]]'' ''[[Pesachim]]'' 115a;<!-- verse? --> See also Passover Hagadah <!-- which one? --></ref> Từ lâu, bánh mì dẹt chỉ có các loại khác nhau một chút đã được sử dụng để xúc hoặc gói một lượng nhỏ thức ăn trên đường từ đĩa đến miệng ở khắp Tây Á và Bắc Phi. Từ [[Maroc|Ma-rốc]] rồi sang [[Ethiopia]] đến Ấn Độ, bánh mì được nướng thành những hình tròn dẹt, tương phản với truyền thống làm bánh mì dài của châu Âu.
Vào thời [[Trung Cổ|Trung cổ]], những mảng bánh mì cũ lớn gọi là ''trencher'' được dùng làm [[đĩa]]. Sau buổi ăn, miếng bánh mì bẩn này được đưa cho chó hay người ăn xin để ăn, hay được ăn bởi người đầu tiên. Những ''trencher'' dẫn đến bánh xăng-đuých trần (''open-face sandwich'').<ref>{{Chú thích web|url=http://whatscookingamerica.net/History/SandwichHistory.htm|title=What's Cooking America|work=Sandwiches, History of Sandwiches|date=[[2 tháng 2]] năm [[2007]]}}</ref>
 
Trong [[Trung Cổ|thời Trung cổ]] ở châu Âu, những phiến bánh mì thô và thường là bánh mì cũ, được gọi là "''thớt cắt bánh mì''", được dùng làm đĩa.<ref>{{cite book|title=Banquets set forth: banqueting in English Renaissance drama|first=Chris|last=Meads|publisher=Manchester University Press|year=2001|page=47|isbn=0-7190-5567-9}}</ref> Sau bữa ăn, những chiếc sơn hào hải vị có lẽ được phân phát cho người hầu hoặc người nghèo. Tiền thân của ẩm thực có mối liên hệ trực tiếp với món bánh mì kẹp Anh đã được tìm thấy ở Hà Lan vào thế kỷ XVII, nơi nhà tự nhiên học John Ray đã quan sát thấy<ref>{{cite book |last1=Ray |first1=John |title=Observations topographical, moral, & physiological; made in a journey through part of the Low Countries, Germany, Italy, and France … |date=1673 |publisher=John Martyn |location=London, England |page=[https://archive.org/details/observationstopo00rayj/page/51 51] |url=https://archive.org/details/observationstopo00rayj}}</ref><ref>Ray, ''Observations topographical, moral, & physiological; made in a journey through part of the Low Countries, Germany, Italy, and France …'' (vol. I, 1673) quoted in [[Simon Schama]], ''[[The Embarrassment of Riches: An Interpretation of Dutch Culture in the Golden Age|The Embarrassment of Riches]]'' (1987:152).</ref> rằng trong quán rượu, thịt bò được treo trên xà nhà "họ cắt thành từng lát mỏng và ăn với bánh mì và bơ đặt từng lát lên trên bơ" —các thông số kỹ thuật cho thấy món bánh mì bắt nguồb từ tên gọi ''belegde broodje'' của Hà Lan, vẫn chưa hề xa lạ ở Anh.
Trong nhiều ngôn ngữ [[châu Âu]], bánh mì kẹp có tên giống ''sandwich'' ([[tiếng Anh]]) hay ''sándwich'' ([[tiếng Tây Ban Nha]]). Ở [[Cận Đông]], vùng [[Địa Trung Hải]], và những vùng [[châu Âu]] khác, những món ăn như thịt, trái cây, phó mát, và đồ gia vị được kẹp vào giữa bánh mì hay [[bánh ngọt]] trước khi cái tên này xuất hiện. Tên này xuất hiện lần đầu tiên trong nhật ký của [[Edward Gibbon]], tác giả gọi "những miếng thịt nguội" là ''sandwich''. Nó được đặt tên theo [[John Montagu, Bá tước Sandwich thứ 4]], người quý tộc [[Anh]] vào [[thế kỷ 18]], nhưng ông không phải là người sáng tạo đồ ăn này hay người làm cho nó trở nên phổ biến. Người ta cho rằng Ngài Sandwich thích loại đồ ăn này vì nó để ông tiếp tục đánh bài trong khi ăn, nhất là chơi [[cribbage]], khi ăn không phải làm dơ các lá bài vì ăn thịt bằng tay không.
 
VàoBan thế kỷ 18, bánh mì kẹpđầu được làmcoi phổ biếnthực bởiphẩm Montagu phái phầnnam lớncùng vẫnăn khi đồ ănchơi [[TâyTiêu Bankhiển|trò tiêu Nhakhiển]]. Tuy ban đầu bánh mì kẹp được cho là làm để những đàn ông ăn khi họ đánh bài và uống rượu vào ban đêm, nhưng bánh mì kẹpsandwich từdần từdần bắt đầu xuất hiện trong những trường hợphội lịch sự như một bữa ăn trễ ban đêmkhuya của nhữngtầng ngườilớp giàuquý tộc. Bánh sandwich kẹpđược trởđặt thànhtheo đồtên ăncủa rấtJohn phổMontagu, biến tước Tâythứ Ban4 Nhacủa Sandwich, Anhmột vàoquý tộc Anh thế kỷ 19,mười khitám. Người côngta nghiệpnói nặngrằng anh [[giaita cấpđã côngra nhân]]lệnh cầncho bữangười ănhầu nhanh,của rẻ,mình và dễđể mang theo.<refcho name="Katz">{{Chúông thíchta báchphần khoathịt toànkẹp thư|title=Sandwich|encyclopedia=Encyclopediagiữa ofhai Foodmiếng andbánh Culture|editor=Solomon H.<ref Katz|publishername=Charles Scribner"What's Sons|location=[[ThànhCooking phốAmerica"/><ref New York]]|yearname=2003}}<"BBC News Online"/ref>
 
Người ta thường nói rằng [[Lãnh chúa]] vùng Sandwich thích hình thức thức ăn này vì nó cho phép ông ta tiếp tục chơi bài, đặc biệt là bài cribbage, trong khi ăn mà không cần dùng nĩa và không bị dính [[Mỡ động vật|dầu mỡ]] khi ăn thịt bằng tay không.<ref name="What's Cooking America"/> Sự lan truyền ở dạng quen thuộc về món ăn này xuất hiện trong cuốn ''Londres (Neuchâtel, 1770)'' của Pierre-Jean Grosley, được dịch là ''Chuyến du lịch đến London năm 1772''. <ref>[http://www.faktoider.nu/sandwich.html Hexmasters Faktoider: Sandwich]: English quotes from Grosley 1772</ref> Ấn tượng của Grosley đã được hình thành trong một năm ở London vào năm 1765. Sự thay thế tỉnh táo được cung cấp bởi người viết tiểu sử của Sandwich, N. A. M. Rodger, người gợi ý những cam kết của Sandwich đối với hải quân, đối với chính trị và nghệ thuật, có nghĩa là chiếc bánh mì kẹp đầu tiên có nhiều khả năng đã được ăn tại chính chiếc bàn làm việc của mình.
Vào lúc này, bánh mì kẹp bắt đầu được phổ biến ngoài châu Âu. Ở Hoa Kỳ, bánh mì kẹp mới đầu được quảng cáo là một buổi tối phức tập. Vào thế kỷ 20, khi bánh mì trở thành nền của đồ ăn Mỹ, bánh mì kẹp trở thành bữa ăn nhanh, rẻ, và phổ biến như đã có ở vùng Địa Trung Hải.<ref name="Katz" />
 
Sự phổ biến của bánh mì kẹp ở Tây Ban Nha và Anh đã tăng lên đáng kể trong thế kỷ 19, khi sự trỗi dậy của xã hội công nghiệp và tầng lớp lao động khiến những bữa ăn nhanh, dễ di chuyển và rẻ tiền trở nên thiết yếu.<ref name=encyc>''Encyclopedia of Food and Culture'', Solomon H. Katz, editor (Charles Scribner's Sons: New York) 2003</ref> Ví dụ, ở Luân Đôn, ít nhất bảy mươi người bán hàng rong đã bán bánh mì thịt nguội vào năm 1850; trong suốt thập kỷ đó, các quán bánh mì sandwich cũng trở thành một hình thức ăn uống quan trọng ở miền tây Hà Lan, thường phục vụ bánh mì kẹp thịt bò muối và gan.<ref>{{cite book|title=The Oxford Companion to Food|author=Alan Davidson and Tom Jaine|year=2014|publisher=Oxford University Press|isbn=978-0199677337|page=712|url=https://books.google.com/books?id=RL6LAwAAQBAJ}}</ref>
 
Ở Mỹ, sandwich lần đầu tiên được quảng cáo như một món ăn công phu vào bữa tối. Vào đầu thế kỷ 20, khi bánh mì trở thành một thực phẩm chính trong chế độ ăn uống của người Mỹ, bánh mì sandwich đã trở thành một loại bữa ăn nhanh phổ biến giống như đã phổ biến ở Địa Trung Hải.<ref name=encyc/>
 
==Hình ảnh==