Khác biệt giữa các bản “Tên người Nhật Bản”

không có tóm lược sửa đổi
(Đã cứu 1 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.8)
Cũng có trường hợp ngoại lệ, người Nhật lấy vợ hay chồng lấy chồng hay vợ là người nước khác (ví dụ như Châu Âu, Mỹ) sẽ có tên nửa Nhật nửa Anh mà lấy tên họ của mình là gốc Nhật (Ví dụ như "Jenny Aomori" là người Mỹ gốc Nhật; tên đệm "Jenny" ám chỉ bố hay mẹ cô là người Mỹ mà từ "Aomori" là tên họ người Nhật).
 
Từ năm 2020, Chính phủ Nhật Bản quyết định sẽ sử dụng cách sắp xếp tên người Nhật Bản theo thứ tự họ trước tên sau của truyền thống Á Đông trong các văn bản chính thức được dịch ra tiếng Anh và các ngôn ngữ phương Tây khác sử dụng [[chữ Latin]] (mà tiếng Nhật gọi là [[Rōmaji|Romaji]]), bao gồm cả [[tiếng Việt]] đang sử dụng [[Chữ Quốc ngữ|chữ Quốc Ngữ]] (giống như trang tiếng Việt của NHK World-Japan đang thực hiện).<ref>{{Chú thích web|url=https://www3.nhk.or.jp/nhkworld/vi/news/193484/|title=Thay đổi cách viết tên người Nhật trong tiếng nước ngoài|last=|first=|date=|website=NHK WORLD - JAPAN|archive-url=https://web.archive.org/web/20191026041514/https://www3.nhk.or.jp/nhkworld/vi/news/193484/|archive-date=2019-10-26|access-date=|url-status=}}</ref> Theo đó, tên của Thủ tướng [[Abe Shinzō|Abe]] sẽ phải viết và đọc đúng thứ tự là "Abe Shinzo" thay cho "Shinzo Abe". Tương tự như vậy với cách viết và đọc tên cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá như [[Honda Keisuke]], [[Okazaki Shinji]], [[Moriyasu Hajime]], [[Miura Toshiya]],... hay tên của những người Nhật Bản khác, mà hiện nay truyền thông Việt Nam đang viết và gọi bị sai ngược, do thường lấy tên từ nguồn tiếng Anh thay vì tiếng Nhật chính chủ (như VnExpress thường lấy nguồn từ Fox News, AFP, Reuters,... thay vì NHK). Việt Nam không có quy định nào bắt buộc tên người nước ngoài trong tiếng Việt phải đảo ngược dù họ tên gốc là họ trước tên sau hay tên trước họ sau, nhưng việc tên người Nhật Bản hay bị đảo ngược ở trong các văn vản tiếng Việt là do chữ viết chính của tiếng Việt hiện nay là chữ Latinh (thay vì chữ Nôm hay chữ Hán), và giới truyền thông Việt Nam hay người viết lẫn người nói quá phụ thuộc vào nguồn thông tin tiếng Anh do cùng dùng chữ Latinh, cho thấy độ tương tác trực tiếp từ tiếng Nhật sang tiếng Việt đã bị tiếng Anh chen vào và lấn át tiếng Việt ngay tại Việt Nam. Điều nay không xảy ra với [[Tiếng Hàn Quốc|tiếng Hàn]] và [[Tiếng Trung Quốc|tiếng Trung]] (những ngôn ngữ cùng trong [[vùng văn hóa Đông Á]] với tiếng Việt và tiếng Nhật), khi chữ viết chính không phải là chữ Latinh và thông tin có sự đối chứng trực tiếp từ nguồn tiếng Nhật.
 
==Tên tiếng Nhật trong tiếng Trung Quốc ==
{{refimprove|date=April 2014}}
TrongGiống cácnhư cộngtên đồngngười nóiViệt tiếng Trungtên Quốcngười Triều Tiên, tên tiếng Nhật được phát âm theo cách phát âm tiếng Trung Quốc của các ký tự Kanji (Hán tự) trong các cộng đồng nói tiếng Trung Quốc.<ref>[[British Broadcasting Corporation]] Monitoring Service. ''Summary of World Broadcasts: Far East, Part 3''. Monitoring Service of the British Broadcasting Corporation, 1984. tr. [https://books.google.com/books?id=PU_VAAAAMAAJ&q=%22 SWB FE/7688/A3/9 6 Jul 84]. "Trong khi đó, tiếng Trung Quốc cho biết tên của Nhật Bản trong phát âm tiếng Trung."</ref> Ví dụ, trong [[Quan thoại|tiếng Quan Thoại]], {{nihongo|Yamada Tarō|山田太郎|hanviet=Sơn Điền Thái Lang}} sẽ trở thành "Shāntián Tàiláng", trong khi {{nihongo|Hatoyama Yukio|鳩山 由紀夫|hanviet=Cưu Sơn Do Kỉ Phu}} sẽ trở thành "Jiūshān Yóujìfū". Kết quả là, một người Nhật Bản có thể mường tượng tên của mình qua [[onyomi]], nhưng nếu không có hiểu biết đầy đủ về âm đọc của tiếng Trung Quốcthì sẽ không hiểu tên của anh hoặc cô ta khi được nóiđọc trong tiếng Trung Quốcnhư thế nào.
 
Đôi khi, một cái tên Nhật Bản bao gồm các [[kokuji]]. Những mẫu tự [[kanji]] này giống với [[chữ Hán]], nhưng có nguồn gốc từ Nhật Bản và không có phát âm trong tiếng Trung Quốc (giống như [[chữ Nôm]] của tiếng Việt). Ví dụ, từ ''komu'' ({{nowrap|{{nihongo2|込}}}}) không hề có cách phát âm tiếng Trung Quốc. Khi gặp phải những chữ như vậy, thường thì quy tắc "{{lang|zh-Hant|有邊讀邊,沒邊讀中間}}" ("[[Youbian dubian|đọc phần ở bên nếu có]], đọc phần ở giữa nếu không có phần ở bên") sẽ được áp dụng. Do đó, "{{nowrap|{{nihongo2|込}}}}" được đọc là "rù" ("Nhập") bắt nguồn từ cách đọc chữ {{lang|zh-Hans|入}} (Nhập).{{citation needed|date=April 2014}}