Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Tào Hoán”

n
Đã lùi lại sửa đổi của Duynhat277 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Newone
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
n (Đã lùi lại sửa đổi của Duynhat277 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Newone)
Thẻ: Lùi tất cả
}}
'''Tào Hoán''' ([[chữ Hán]]: 曹奐; [[246]]–[[302]]) hay '''Tào Ngụy Nguyên Đế''', là vị [[vua]] cuối cùng của nhà [[Tào Ngụy]] thời [[Tam Quốc]] trong [[lịch sử Trung Quốc]]. Đầu năm [[266]] dương lịch, khi ông thoái vị, [[Thiện nhượng|nhường ngôi]] lại cho [[Tấn Vũ Đế|Tư Mã Viêm]], ông được phong làm '''Trần Lưu Vương''' (陳留王), sau khi mất, ông được an táng theo nghi thức của một [[hoàng đế]], được truy hiệu là "Nguyên" (nghĩa là: thức thời, hợp lẽ).
 
Trong thời gian ở ngôi, dĩ nhiên [[Nguyên Đế]] cũng chỉ là một ông [[vua]] bù nhìn được [[Họ Tư Mã]] dựng lên để khống chế triều đình [[Tào Ngụy]].
 
==Thiếu thời==
 
Ông sinh vào năm 246, tên khai sinh vốn là '''Tào Hoàng''' (曹璜), là con trai của Yên Vương [[Tào Vũ (Tam Quốc)|Tào Vũ]] (曹宇). Khi ông lên 12 tuổi, theo lệ, con của các vương tử sẽ được tập ấm phong làm [[công tước]], bản thân ông được phong là '''Thường Đạo hương công''' (常道鄉公). Năm 260, khi hoàng đế [[Tào Mao]] (người kế nhiệm Phế Đế [[Tào Phương]]) bị [[Tư Mã Chiêu]] giết hại, Tào Hoàng được đưa lên ngôi vị hoàng đế, bèn đổi tên là Tào Hoán, chính là Nguyên Đế.
[[Trần Lưu Vương]] tên là Hoán(14) sinh vào năm [[246]], tên khai sinh vốn là '''Tào Hoàng''' sau khi ông lên ngôi [[Hoàng Đế]] thì ông bèn đổi tên là [[Tào Hoán]], tự Cảnh Minh, là cháu của [[Vũ Đế]], con của [[Yên Vương]] là [[Tào Vũ]].
 
==Ông vua "bù nhìn"==
Năm [[Cam Lộ]] thứ ba, phong Thường Đạo Hương Công ở huyện [[An Thứ]]. [[Cao Quý Hương Công]] chết, công khanh bàn đón lập công.
Trong thời gian ở ngôi, dĩ nhiên [[Nguyên Đế]] cũng chỉ là một ông [[vua]] bù nhìn. đượcNăm [[Họ263, Tư Mã]] dựng lênvua đểlập khốngnàng chếhọ triềuBiện đìnhlàm [[Tàohoàng Ngụyhậu]].
 
Tháng [[6]], ngày [[giáp dần]],năm [[265]], vào đến [[Lạc Dương]], gặp [[Hoàng thái hậu]], hôm đó lên ngôi [[Hoàng đế]] ở điện trước [[Thái Cực]] Tức [[Tào Ngụy Nguyên Đế]], đại xá, đổi [[Niên hiệu]], ban tước và lụa gạo cho mọi người theo thứ bậc.<ref>[[Tam quốc chí]],
[http://zh.wikisource.org/wiki/%E4%B8%89%E5%9C%8B%E5%BF%97/%E5%8D%B704 quyển 4]</ref>
 
==Trị Vì==
Năm 263, vua lập nàng họ Biện làm [[hoàng hậu]], tháng 11 năm đó thì tiếp tục Hạ Chiếu Đại xá thiên hạ.
=== Diệt Thục ===
Khi Nguyên Đế cai trị, nhà Tào Ngụy lúc đó phải đương đầu với những cuộc tấn công của nước [[Thục Hán]] do [[Khương Duy]] dẫn đầu. Khi đó, [[Tư Mã Chiêu]] sau khi đánh bại Khương Duy, bèn sai 2 tướng [[Chung Hội]] và [[Đặng Ngải]] đem 18 vạn quân tiến đánh Thục Hán. Kết quả là Thục Hán đại bại, bắt được Hậu Chủ [[Lưu Thiện]]. Nhưng sau đó, tướng Ngụy là Chung Hội lại liên kết với Khương Duy, bắt giam Đặng Ngải, định lập lại nước Thục hán, nhưng cuối cùng bị các tướng Ngụy giết chết. Từ đó, lãnh thổ rộng lớn của Thục Hán (gồm tỉnh [[Tứ Xuyên]], [[Trùng Khánh]], [[Vân Nam]], miền nam [[Thiểm Tây]] và miền đông nam [[Cam Túc]] ngày nay) sáp nhập vào Tào Ngụy.
 
Từ sau trận chiến đó, họ [[Tư Mã]] ngày càng mạnh mẽ. Năm 264, Tư Mã Chiêu ép Nguyên Đế phong ông làm Tấn Vương. Sau đó, Nguyên Đế lại phải ban lễ [[cửu tích]] cho ông. Năm 265, khi Tư Mã Chiêu mất, con là [[Tấn Vũ Đế|Tư Mã Viêm]] lên thay. Dưới sức ép của Tư Mã Viêm, ngày Nhâm Tuất (13) tháng 12 năm Ất Dậu<ref>[[Tam quốc chí]], [[:zh:s:三國志/卷04|quyển 4]]</ref> (tức 4 tháng 2 năm 266), Nguyên Đế phải sai sứ giả dâng hoàng đế tỉ, thiện vị cho Tấn. Sau 45 năm tồn tại, nước Tào Ngụy đến đó là diệt vong. Cũng từ đó, [[nhà Tấn]] thành lập, sau này đã chấm dứt cục diện [[Tam Quốc]].
=== Nhường Ngôi cho Tư Mã Viêm ===
 
Còn [[Nguyên Đế]], sau khi bị giáng làm [[Trần Lưu Vương]], không rõ cuộc sống sau đó của ông ra sao.<ref> Ông mất vào năm 302, dưới thời [[TamTấn quốcHuệ chíĐế]], hưởng thọ 56 tuổi.
Từ sau trận chiến đó, họ [[Tư Mã]] ngày càng mạnh mẽ. Năm 264, [[Tư Mã Chiêu]] ép [[Nguyên Đế]] phong ông làm Tấn Vương. Sau đó, Nguyên Đế lại phải ban lễ [[cửu tích]] cho ông.
 
Tháng 5, năm đó, [[Nguyên Đế]] hạ chiếu nói:
 
“Tướng quốc [[Tấn Vương]] bày đặt mưu thần, đức bọc bốn cõi, võ công lẫy lừng thì oai trùm xứ lạ, lan truyền giáo hóa thì các nước bên cạnh chẳng rời bỏ. Vỗ về miền [[Giang Biểu]], vẫn nghĩ giúp đỡ, bỏ võ chuộng nhân, nêu bảo oai đức. Văn đức truyền đến đâu thì đều ngưỡng theo hướng về, sai sứ dâng nạp để tỏ rõ ý thuận, đem vật báu đồ lạ đến mà tỏ lòng vui mừng. Vậy mà Vương vẫn khiêm nhường như thế, đều sai trả về, chẳng phải là vì vỗ về mà khiến cho người ta theo phục, mà là theo mộ lòng thành thật vậy. Nay các đồ mà [[Tôn Hạo]] dâng đến mà Vương chở về thì đều đem đến chỗ vương để hợp với phép cổ”. Vương cố từ lại thôi.
 
Lại sai [[Tấn Vương]] đội mũ miện có mười hai dải, dùng cờ tinh của [[Thiên tử]], ra thì có quân phòng vệ, vào thì sai quân dẹp đường, ngồi xe nạm vàng bạc, có sáu con ngựa kéo, sắm năm cỗ xe đi bảo vệ, đặt cờ mao cờ xí, tám đội nhạc múa, treo chuông khánh ở trong cung. Lại phong phi của vương làm [[Vương hậu]], [[Thế tử]] làm [[Thái tử]], các con trai, con gái, cháu của vương đều được ban tước như phép cũ. Ngày quý mùi, đại xá. Mùa thu tháng tám ngày tân mão, Tướng quốc [[Tấn Vương]] [[Tư Mã Chiêu]] qua đời. Ngày nhâm thìn, [[Thái tử]] Viêm của [[Tấn Vương]] được phong nối tước, trông coi trăm quan, sắm sửa chiếu lệnh, đều như lúc cũ.
 
Tháng đó, huyện [[Tương Vũ]] tấu có người lớn hiện, cao hơn ba trượng, vết dân dài ba thước hai tấc, tóc trắng, mặc áo cộc vàng, khăn vàng, cầm gậy, gọi người dân là [[Vương Thủy]] đến bảo rằng:
“Thời nay yên bình”. Tháng chín ngày ất mùi, đại xá. Ngày mậu ngọ, lấy Tư đồ Hà Tăng làm [[Thừa tướng]] của [[Tấn Vương]]. Ngày quý hợi, lấy Phiếu kị Tướng quân [[Tư Mã Vọng]] làm Tư đồ, Chinh đông Đại tướng quân [[Thạch Bao]] làm Phiếu kị Tướng quân, Chinh nam tướng quân [[Trần Khiên]] làm Xa kị Tướng quân. Ngày ất hợi, táng [[Tấn Văn Vương]]. Tháng nhuận ngày canh thìn, các nước [[Khang Cư]], [[Đại Uyển]] sai sứ đến dâng ngựa tốt, đem vào phủ [[Tướng quốc]] để tỏ rõ công lao vỗ về vạn nước phương xa.
 
Dưới sức ép của [[Tư Mã Viêm]], ngày Nhâm Tuất (13) tháng 12 năm Ất Dậu( Tức 4 tháng 2 năm [[266]]), [[Nguyên Đế]] Hạ chiếu công khanh bầy tôi sắm bày lễ nghi đắp đàn ở chỗ ngoài phía nam thành, sai [[sứ giả]] dâng ấn thao của [[Hoàng đế]], truyền ngôi cho Vương nối tự của [[nhà Tấn]], theo như việc cũ của [[nhà Hán]] truyền ngôi cho [[nhà Ngụy]]. Ngày giáp tí, sai sứ giả đem chiếu đến. Bèn đổi phong ở huyện [[Kim Dung]], rồi lại dựng quán ở đất Nghiệp, bấy giờ hai mươi tuổi. Sau 45 năm tồn tại, nước [[Tào Ngụy]] đến đó là diệt vong. Cũng từ đó, [[nhà Tấn]] thành lập, sau này đã chấm dứt cục diện [[Tam Quốc]].
 
Còn [[Nguyên Đế]], sau khi bị giáng làm [[Trần Lưu Vương]], không rõ cuộc sống sau đó của ông ra sao.<ref>[[Tam quốc chí]],
[http://zh.wikisource.org/wiki/%E4%B8%89%E5%9C%8B%E5%BF%97/%E5%8D%B704 quyển 4]</ref>
 
==Qua Đời==
Ông mất vào năm [[302]], dưới thời [[Tấn Huệ Đế]], hưởng thọ 56 tuổi. Sử Không nhắc gì về Hậu Duệ của ông.
 
==Niên hiệu==