Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Cúc vu”

n
clean up
n (Di chuyển từ Category:Rau rễ đến Category:Rau ăn rễ dùng Cat-a-lot)
n (clean up)
Cây '''cúc vu''' ([[danh pháp hai phần]]: '''''Helianthus tuberosus''''' [[Carl von Linné|L.]]), là một loài thực vật có hoa, có nguồn gốc [[Bắc Mỹ]] và được trồng trong khu vực [[ôn đới]] để lấy phần [[thân củ]] mà người Việt quen gọi là củ dùng làm [[rau ăn củ]].
 
Tên gọi trong [[tiếng Anh]] của nó là ''Jerusalem artichoke'' (atisô Jerusalem) nhưng nó không liên quan gì tới [[Jerusalem]] và cũng có rất ít quan hệ họ hàng với [[atisô]] (''Cynara scolymus''). Tên gọi Jerusalem có lẽ là do từ nguyên dân gian; do khi lần đầu tiên người châu Âu biết đến cúc vu thì họ gọi nó là ''Girasole'', một từ trong tiếng Italia để chỉ [[hướng dương]]. Theo thời gian tên gọi Girasole đã chuyển thành Jerusalem. Phần tên gọi atisô của cúc vu có lẽ là do hương vị của phần thân củ ăn được của nó, hương vị của nó là sự kết hợp của [[củ cải (cây)|củ cải]] và [[atisô]]. Trong tiếng Pháp, Đức, Ý, Romania, Nga và Tây Ban Nha, cây này được gọi là ''topinambur''.<ref>{{citechú thích web|last1=Graham|first1=Peter|title=Chez Gram|url=https://chez-gram.com/lexicon/jerusalem-artichoke|accessdateaccess-date =ngày 17 Februarytháng 2 năm 2018}}</ref> Cúc vu trên thực tế là loài thuộc [[chi Hướng dương]], và có quan hệ họ hàng gần với cây [[hướng dương]] ''Helianthus annuus''.
 
Các thân củ lắm mấu và không đồng đều, trông tương tự như củ gừng, với kết cấu chắc, giòn khi còn tươi. Không giống như phần lớn các loại thân củ, nhưng là thông thường đối với các thành viên trong họ Cúc (bao gồm cả atisô), các thân củ lưu giữ hyđratcacbon [[inulin]] (không nhầm với [[insulin]]) thay vì [[tinh bột]]. Vì lý do này, các thân củ của cúc vu là nguồn quan trọng để sản xuất [[fructoza]] trong công nghiệp. Các hyđratcacbon làm cho các thân củ có xu hướng bị vụn nát và hòa tan khi nấu nướng, làm gia tăng khả năng gây chướng bụng đầy hơi. Củ để lâu bị nhăn nheo, mềm và có thể có vị đắng.
Atisô Jerusalem nở hoa giữa tháng 8 và tháng 11. Tuy nhiên, là một loại cây ngắn ngày, nó chỉ nở hoa khi độ dài của [[ngày]] giảm xuống dưới một mức nhất định.<ref name="Vogel1996">G. Vogel: ''Handbuch des speziellen Gemüsebaus – Topinambur.'' 1996, ISBN 3-8001-5285-1. S.&nbsp;152–159.
</ref> Do đó, hoa không nở ở miền bắc nước Pháp cho đến tháng 10,<ref name="Vilmorin1904">H. L. Vilmorin: ''Topinambour.'' In: ''Les Plantes Potagères; Descroption et culture des Proncipaux Légumes des climats tempéré.'' Troisième Édition, 1904, S.&nbsp;681–682.
</ref> tuy nhiên, ở [[Trung Âu]] sớm nhất là vào tháng 8.<ref name="Vogel1996"/>G. Vogel: ''Handbuch des speziellen Gemüsebaus – Topinambur.'' 1996, ISBN 3-8001-5285-1. S.&nbsp;152–159.
</ref>
 
Sự phát triển chính của củ xảy ra từ tháng 7 đến tháng 10,<ref name="Stolzenburg2003">K. Stolzenburg: ''Topinambur – gesunde Knolle, Wiederentdecktes Wintergemüse.'' In: ''Gemüse.'' Nr.&nbsp;11, 2003, S.&nbsp;24–26.</ref> được thu hoạch từ tháng 11 đến tháng 3 / tháng 4 trước khi củ nảy mầm trở lại.<ref name="Vilmorin1904" /> Sau khi lá rụng (rụng), thân cây ngắn lại để dễ thu hoạch.