Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Dãy núi Ural”

n
→‎Địa chất: clean up, replaced: {{Cite journal → {{Chú thích tạp chí (2)
n (→‎Địa chất: clean up, replaced: |url-status=dead → |url hỏng=yes using AWB)
n (→‎Địa chất: clean up, replaced: {{Cite journal → {{Chú thích tạp chí (2))
 
== Địa chất ==
Mạch núi U-ran hình thành vào [[Kỷ Than Đá|Kỉ Than đá]],<ref name="brown&echtler">{{chú thích sách|title=Encyclopedia of Geology|author=Brown, D. and Echtler, H.|publisher=Elsevier|year=2005|isbn=978-0126363807|editor=Selley, R. C.; Cocks, L. R. M. and Plimer, I. R.|volume=Vol. 2|pages=86–95|chapter=The Urals}}</ref><ref>{{chú thích sách|url=https://web.archive.org/web/20090731085326/http://www.geodynamics.no/guest/GeolSoc06.pdf|title=European Lithosphere Dynamics|author=Cocks, L. R. M. and Torsvik, T. H.|publisher=Geological Society of London|year=2006|isbn=978-1862392120|editor=Gee, D. G. and Stephenson, R. A.|volume=32|pages=83–95|chapter=European geography in a global context from the Vendian to the end of the Palaeozoic}}</ref><ref>{{CiteChú journalthích tạp chí|last1=Puchkov|first1=V. N.|year=2009|title=The evolution of the Uralian orogen|url=https://www.researchgate.net/publication/249552596|journal=Geological Society, London, Special Publications|volume=327|pages=161–195|doi=10.1144/SP327.9}}</ref><ref>{{CiteChú journalthích tạp chí|last1=Brown|first1=D.|last2=Juhlin|first2=C.|last3=Ayala|first3=C.|last4=Tryggvason|first4=A.|last5=Bea|first5=F.|last6=Alvarez-Marron|first6=J.|last7=Carbonell|first7=R.|last8=Seward|first8=D.|last9=Glasmacher|first9=U.|year=2008|title=Mountain building processes during continent–continent collision in the Uralides|url=https://www.researchgate.net/publication/236880030|journal=Earth-Science Reviews|volume=89|issue=3–4|pages=177|doi=10.1016/j.earscirev.2008.05.001|last10=Puchkov|first10=V.|last11=Perez-Estaun|first11=sexbombA.}}</ref> lúc đó [[Xibia|Xi-bê-ri-a]] ngày nay là một khối đất liền độc lập, xô đụng nhau với một phần [[Toàn Lục Địa|lục địa Siêu cấp]] lúc ấy - [[châu Âu]] ngày nay, rồi hình thành mạch núi U-ran. Đến nay chỉ có [[châu Âu]] và [[Xibia|Xi-bê-ri-a]] vẫn nối liền lẫn nhau. [[Novaya Zemlya|Đảo Tân Địa]] ở giữa [[Biển Kara|biển Ca-ra]] và [[biển Barents]] trên thật tế là sự duỗi dài của mạch núi U-ran.
 
Mạch núi U-ran mở đầu hình thành vào thời gian nhô lên mang tính kết cấu của vận động tạo núi Variscan (chừng 250 triệu năm về trước). Khoảng chừng 280 triệu năm về trước, chỗ này nhô lên một khu vực núi cao, nó lại bị [[Xói mòn|xâm chiếm ăn mòn]] biến thành đồng bằng xấp xỉ. [[Kiến tạo sơn Anpơ|Vận động tạo núi An-pơ]] đã hình thành đất đồi núi mới, rõ ràng nhất chính là sự nhô lên đất đồi núi của núi Á cực địa U-ran.
 
Sườn tây mạch núi U-ran, bên trong có [[đá trầm tích]] vào kì giữa [[Đại Cổ sinh]] khoảng chừng 350 triệu năm tạo thành nên. Mạch núi U-ran về phía tây là [[Sụt lún (địa chất)|sụt lún]] Cis-Ural, vào cuối kì [[Đại Cổ sinh]] (chừng 300 triệu năm trước) có rất nhiều vật chất bị [[Xói mòn|xâm chiếm ăn mòn]] bị [[bồi tích]] đến chỗ này; vào năm 1988 rất nhiều địa phương ở sườn tây mạch núi đều lộ ra đất bậc thềm, dần dần xuống thấp từng bậc xuyên qua [[Sụt lún (địa chất)|sụt lún]] Cis-Ural. Sườn tây đi đến nơi có [[Karst|các-xtơ]] (khu vực [[đá vôi]] bị [[Xói mòn|xâm chiếm ăn mòn]] hoàn toàn) và [[thạch cao]], mang theo mình [[Hang|hang động]] và dòng [[suối]] dưới đất cực kì to lớn. Ở sườn đông, tầng [[đá núi lửa]] và tầng [[đá trầm tích]] thay phiên chồng chất lẫn nhau, chúng nó đều là do kì giữa [[Đại Cổ sinh]] hình thành nên.<ref name="bse3">{{chú thích web|url=http://slovari.yandex.ru/~%D0%BA%D0%BD%D0%B8%D0%B3%D0%B8/%D0%91%D0%A1%D0%AD/%D0%A3%D1%80%D0%B0%D0%BB%20(%D0%B3%D0%B5%D0%BE%D0%B3%D1%80%D0%B0%D1%84%D0%B8%D1%87.)/|title=Ural (geographical)|publisher=[[Great Soviet Encyclopedia]]|archive-url=https://web.archive.org/web/20140918062450/http://slovari.yandex.ru/~%D0%BA%D0%BD%D0%B8%D0%B3%D0%B8/%D0%91%D0%A1%D0%AD/%D0%A3%D1%80%D0%B0%D0%BB%20(%D0%B3%D0%B5%D0%BE%D0%B3%D1%80%D0%B0%D1%84%D0%B8%D1%87.)/|archive-date=ngày 18 tháng 9 năm 2014|accessdateaccess-date =ngày 31 tháng 5 năm 2016|url hỏng=yes}}</ref>
 
Các [[Đá|nham thạch]] này đã tạo thành [[Nếp lồi|nếp lồi phức]] Tagil-Magnitogorsk (là một nhóm đá vòng cung và đá máng, bản thân nó cũng hình thành thung lũng hình dạng chữ U), nó là nếp lồi phức lớn nhất trong cả mạch núi. Sườn đông của núi Trung Ural và Nam Ural cong ngoằn làm thành gò đồi chân núi kiểu đồng bằng xấp xỉ, chỗ này thông thường có sự phô bày của [[đá hoa cương]], cũng thường xuyên có đỉnh núi đơn độc hình trạng kì dị. Ở phía bắc, đồng bằng xấp xỉ bị chôn vùi dưới [[Trầm tích|vật trầm tích]] của [[Đồng bằng Tây Xibia|đồng bằng Tây Xi-bê-ri-a]] lỏng lẻo rời rạc và dễ vỡ thành hình dạng bột vụn.