Khác biệt giữa các bản “Fluor”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
n
Hợp chất fluoride hai nguyên tố của á kim và phi kim khối p thường là hợp chất cộng hóa trị và dễ bay hơi, với khả năng phản ứng khác nhau. Phi kim [[Nguyên tố chu kỳ 3|chu kỳ 3]] trở về sau có thể tạo thành hợp chất fluoride [[Phân tử siêu hóa trị|siêu hóa trị]].<ref name="Noury">{{harvnb|Noury|Silvi|Gillespie|2002}}.</ref>
 
[[Bor trifluoride]] có dạng phẳng và chứa một bát tử chưa hoàn chỉnh. Nó hoạt động hóa học như một [[axit Lewis|acid Lewis]] và kết hợp với base Lewis như amonia để tạo thành [[sản phẩm cộng]].<ref>{{harvnb|Chang|Goldsby|2013|p=706}}.</ref> [[Carbon tetrafluoride]] có dạng tứ diện và là chất trơ;{{refn|CacbonCarbon tetrafluoride được xem là chất hữu cơ, nhưng được liệt kê tại đây thay vì [[#Hợp chất hữu cơ|phần hóa học cơ fluor]] – tại đó có nhiều hợp chất cacbon-fluorcarbon−fluor phức tạp hơn được xét – để so sánh với {{chem|Si|F|4}} và {{chem|Ge|F|4}}.|group="gc"}} các hợp chất [[Nhóm nguyên tố 14|cùng nhóm]] với nó, silic và germani tetrafluoride, cũng có dạng tứ diện<ref>{{harvnb|Ellis|2001|p=69}}.</ref> nhưng hoạt động giống một acid Lewis.{{sfn|Aigueperse và đồng nghiệp|2000|p=423}}{{sfn|Wiberg|Wiberg|Holleman|2001|p=897}} Các nguyên tố [[nhóm nitơ]] tạo thành hợp chất trifluoride có khả năng phản ứng và tính base tăng dần khi khối lượng mol càng lớn, mặc dù [[nitơ trifluoride]] chống lại sự thủy phân và không có tính base.<ref name="PnFx">{{harvnb|Raghavan|1998|pp=[https://books.google.com/books?id=pBiS0jc-kWIC&pg=PA164 164–165]}}.</ref> Hợp chất pentafluoride của [[phosphor]], [[asen]], và [[antimon]] có khả năng phản ứng lớn hơn so với hợp chất trifluoride tương ứng, trong đó [[antimon pentafluoride]] là acid Lewis trung tính mạnh nhất đã biết.{{sfn|Greenwood|Earnshaw|1998|pp=561–563}}<ref name="Arsenic">{{harvnb|Godfrey và đồng nghiệp|1998|p=[https://books.google.com/books?id=vVhpurkfeN4C&pg=PA98 98]}}.</ref>{{sfn|Aigueperse và đồng nghiệp|2000|p=432}}
 
Hợp chất fluoride của các nguyên tố nhóm [[chalcogen]] gồm nhiều loại khác nhau: hợp chất difluoride không bền tồn tại đối với oxy (hợp chất duy nhất đã biết mà trong đó oxy có trạng thái oxy hóa +2), lưu huỳnh, và selen. Hợp chất tetrafluoride và hexafluoride của lưu huỳnh, selen và telu cũng tồn tại; đó là hợp chất bền do có nhiều nguyên tử fluor hơn và các nguyên tử trung tâm nhẹ hơn, nên [[lưu huỳnh hexafluoride]] là chất đặc biệt trơ về mặt hóa học.<ref name="(O,S,Se,Te)Fn">{{harvnb|Murthy|Mehdi Ali|Ashok|1995|pp=[https://books.google.com/books?id=0xl17YU8WzQC&pg=PA180 180–182], [https://books.google.com/books?id=0xl17YU8WzQC&pg=PA206 206–208]}}.</ref>{{sfn|Greenwood|Earnshaw|1998|pp=638–640, 683–689, 767–778}} Chlor, brom và iod có thể tạo thành các hợp chất mono-, tri- và pentafluoride, nhưng chỉ có [[iod heptafluoride]] là xác định được đặc tính trong số các hợp chất heptafluoride của [[hợp chất halogen]] có thể có.{{sfn|Wiberg|Wiberg|Holleman|2001|pp=435–436}} Nhiều loại hợp chất trong số này là nguồn chính tạo ra nguyên tử fluor và các hoạt động công nghiệp sử dụng chlor trifluoride yêu cầu biện pháp phòng ngừa tai nạn tương tự như khi sử dụng fluor.{{sfn|Greenwood|Earnshaw|1998|pp=828–830}}<ref name="Patnaik">{{harvnb|Patnaik|2007|pp=[https://books.google.com/books?id=-CRRJBVv5d0C&pg=PA478 478–479]}}.</ref>
[[Tập tin:FluorocarbonCrabFish.JPG|nhỏ|Lớp nước màu [[Độ trộn lẫn|không trộn lẫn]] (trên) và lớp [[perfluoroheptan]] đậm đặc hơn (dưới) trong một cốc thí nghiệm; cá vàng và cua không thể xuyên qua được mặt ngăn cách; đồng tiền 25 xu của Hoa Kỳ nằm ở dưới cùng.]]
[[Tập tin:Nafion2.svg|nhỏ|Cấu trúc hóa học của Nafion, một loại fluoropolyme sử dụng trong pin nhiên liệu và nhiều ứng dụng khác{{sfn|Hoogers|2004|pp=4–12}}]]
[[Liên kết cacbon−fluor|Liên kết carbon−fluor]] là liên kết mạnh nhất trong [[hóa hữu cơ]],<ref name="hagan">{{harvnb|O'Hagan|2008}}.</ref> và làm cho các hợp chất hữu cơ của fluor có tính bền.{{sfn|Siegemund và đồng nghiệp|2005|p=444}} Nó gần như không tồn tại trong tự nhiên, nhưng có trong các hợp chất tổng hợp. Các nghiên cứu trong lĩnh vực này thường được thúc đẩy bởi những ứng dụng trong sản xuất thương mại;<ref>{{Harvnb|Sandford|2000|p=455}}.</ref> các hợp chất liên quan rất đa dạng và phản ánh độ phức tạp vốn có trong hóa hữu cơ.<ref name="Jstg2" />{{clear left}}
 
==== Phân tử rời rạc ====
{{Chính|Fluorocarbon|Hợp chất perfluor hóa}}
Sự thay thế liên tục các nguyên tử hydro trong một [[ankan|alkane]] bằng các nguyên tử fluor làm biến đổi tính chất hóa học của nó một cách từ từ: điểm nóng chảy và điểm sôi giảm xuống, mật độ tăng lên, tính tan trong các hydrocarbon giảm và tính bền tổng thể tăng. Perfluorocarbon,{{refn|''Perfluorocarbon'' và ''fluorocarbon'' là hai từ đồng nghĩa trong [[IUPAC]] chỉ các phân tử chỉ chứa cacboncarbon và fluor, nhưng thông thường ''fluorocarbon'' còn có thể dùng để chỉ bất kỳ phân tử nào chứa cacboncarbon và fluor, và có thể có thêm các nguyên tố khác.|group="gc"}} những chất trong đó các nguyên tử hydro bị thay thế hết, không tan trong phần lớn dung môi hữu cơ, chỉ xảy ra phản ứng với natri trong amonia lỏng ở điều kiện xung quanh.{{sfn|Siegemund và đồng nghiệp|2005|pp=451–452}}
 
Thuật ngữ ''[[hợp chất perfluor hóa]]'' được dùng cho những hợp chất vốn có thể là perfluorocarbon nếu không phải do sự xuất hiện của một [[nhóm chức]],<ref>{{harvnb|Barbee|McCormack|Vartanian|2000|p=[https://books.google.com/books?id=EdzO0aUxDJkC&pg=PA116 116]}}.</ref>{{refn|Thuật ngữ này (''perfluorinated compound'' trong tiếng Anh) là chưa chính xác, và thuật ngữ ''vật chất perfluor hóa'' (''perfluorinated substance'') cũng được sử dụng.<ref>{{harvnb|Posner và đồng nghiệp|2013|pp=[https://books.google.com/books?id=dthjVAGP-XIC&pg=PA187&dq=%22Perfluorinated+compounds,+hydrocarbons+that+are+fully+fluorinated+except+for+one+functional+group%22 187–190]}}.</ref>|group="gc"}} thường là [[axit carboxylic|acid carboxylic]]. Các hợp chất này cũng có nhiều tính chất tương tự như perfluorocarbon, chẳng hạn như tính bền và tính [[kỵ nước]],<ref name="fluorotelomer">{{harvnb|Posner|2011|p=27}}.</ref> trong khi nhóm chức làm tăng khả năng phản ứng của chúng, cho phép chúng bám vào bề mặt hoặc trở thành [[chất hoạt động bề mặt]];<ref name="Salager2002">{{Harvnb|Salager|2002|p=45}}.</ref> đặc biệt, [[chất hoạt động bề mặt fluor hóa]] có thể làm giảm [[sức căng bề mặt]] của nước nhiều hơn so với các đồng đẳng dựa trên hydrocarbon của chúng. [[Fluorotelome]], những chất có một vài nguyên tử carbon chưa bị fluor hóa gần nhóm chức, cũng được xem là hợp chất perfluor hóa.<ref name="fluorotelomer" />