Khác biệt giữa các bản “Phạm (họ)”

Phạm Thuần Hậu: ông là cha của tiến sỹ Phạm Đình Kính. Ông làm thừa chính sứ Lạng Sơn, có công giúp dân khắc phục cảnh đồng chiêm chũng, mở trường khuyến khích việc học tập.Trước làm Quang tiến thân lộc đại phu, Trinh Nghĩa nam, tặng Cung hiển đại phu, sau tặng thêm Đặc tiến Lễ bộ Tả thị lang, Cẩm phú hầu, Kim tử vinh lộc đại phu, Hộ bộ Tả thị lang, Trinh Nghĩa hầu.
 
[[Phạm Đình Kính]]: Ông thờ hai vua Dụ Tông, Thuần Tông, làm quan đến Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, trải qua Hữu thị lang bộ Binh, tả thị lang Bộ Lễ, tả thị lang Bộ Hộ, Đô ngự sử, Lễ bộ thượng thư, Binh bộ thượng thư, Nhập thị tham tụng kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập thị kinh diên. Khi về hưu được phong tước Vĩnh Lại Quận công, được tặng chức Thiếu bảo. Ông 2 lần đi sứ Nhà Thanh làm vẻ vang quốc thể, được vua Ung CHính ban biển vàng " Vạn Thế Vĩnh Lại" và 3 bộ sách quý. Ông cùng chánh sứ Phạm Khiêm Ích và phó sứ Nguyễn Huy NHuận có công lớn trong việc giữ gìn cương thổ quốc gia: đòi lại 120 dặm châu Thủy Vĩ và mỏ đồng Tụ Long. Mỏ này chiếm trữ lượng khoảng 70% đồng của Việt Nam, có ý nghĩa quan trọng trong tài chính và quân sự.
 
 
 
Cháu trai Lại quận Công là Phạm Đình Tiến ( một số tư liệu dịch là ĐÌnh Trùy, húy Thùy) Trì uy tướng quân Đô chỉ huy sứ đồng tri Tiến Lĩnh Hầu, gia phong Dực bảo trung hưng linh phù tôn thần.Ông giỏi binh pháp, tham gia dẹp loạn khởi nghĩa Vũ Đình Dung. Do dân phiêu tán,ruộng đồng bỏ hoang nhiều năm, năm Cảnh Hưng thứ 15 ( Quý Mùi 1763) ông nhận mật chỉ của vua Lê Hiển Tông về quy tập dân chúng và đổi làng Hóp thành Làng Báo Đáp.
 
 
==== Họ Phạm ([[Quảng Trạch]], [[Quảng Bình]]) ====
95

lần sửa đổi