Khác biệt giữa các bản “Đài Loan thuộc Nhật”

Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao Liên kết định hướng
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
Theo thống kê chính thức do [[Gotō Shinpei]] trích dẫn, trong 4 năm từ 1898 đến 1902, số "thổ phỉ" Đài Loan bị Văn phòng Tổng đốc giết hại là 11.950 người<ref name="ReferenceA">Gotō Shinpei, "Chính sách thuộc địa chung của Nhật Bản", trang 27. Trích từ Yanaihara Tada, do Chu Hiến Văn dịch, "Đài Loan dưới chế độ Đế quốc Nhật Bản", 1999, Đài Bắc, Nhà xuất bản Eo biển Đài Loan, trang 212</ref>. Trong 8 năm trước khi Nhật Bản cai trị Đài Loan, tổng cộng là 32.000 người đã bị giết bởi người Nhật, hơn 1% tổng dân số vào thời điểm đó.<ref name="Dương Bích Xuyên, "Tiểu sử Gotō Shinpei", 1996, Đài Bắc, Nhà xuất bản Đại học Hitotsubashi, trang 62.">Dương Bích Xuyên, "Tiểu sử Gotō Shinpei", 1996, Đài Bắc, NXB Đại học Hitotsubashi, trang 62.</ref><ref name="台灣日本綜合研究所:日本殖民统治台湾與朝鲜的比較(二)">台灣日本綜合研究所所長[[許介鱗]]:[http://www.haixiainfo.com.tw/182-954.html 日本殖民统治台湾與朝鲜的比較(二)] {{Wayback|url=http://www.haixiainfo.com.tw/182-954.html |date=20140201220843 }}</ref>
 
=== Thời kỳ đồng hóa (chủ nghĩa bànhmở trướngrộng nội địa, 1915–1937) ===
{{chính|Chủ nghĩa mở rộng nội địa}}
[[Tập tin:Prince Hirohito visits Takao.jpg|trái|nhỏ|250px|Thái tử [[Chiêu Hòa]] tới thăm Đài Loan năm 1923, bức ảnh chụp trước [[Ga cảng Cao Hùng|Đồn Cao Hùng]].]]
Thời kỳ thứ hai Nhật Bản cai trị Đài Loan bắt đầu vào năm 1915 (cuộc kháng chiến vũ trang cuối cùng của [[người Hán]]) xảy ra trong [[sự kiện đền Tây Lai]] (còn được gọi là sự kiện Tiếu Na hoặc sự kiện Ngọc Tỉnh, xảy ra trên lãnh thổ của thành phố [[Đài Nam]] ngày nay), cho đến khi [[Chiến tranh Trung-Nhật]] bùng nổ vào năm 1937 cho đến. Trong thời kỳ này, tình hình quốc tế đã có những thay đổi đáng kể. Chiến tranh thế giới thứ nhất bi thảm từ năm 1914 đến năm 1918 về cơ bản đã làm lung lay quyền lực của các [[cường quốc]] [[phương Tây]] đối với các thuộc địa. Sau cuộc chiến này, [[chủ nghĩa dân tộc]] phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 19 nói chung chỉ có thể áp dụng cho các quốc gia lớn hơn, và nó cũng có thể áp dụng cho các quốc gia đã bị biến thành quốc gia yếu sau [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]]. Trong trường hợp này, dân chủ và tự do tư tưởng tất cả các cơn thịnh nộ, học thuyết dân tộc tự quyết càng lan rộng trên toàn thế giới. Tháng 1 năm 1918, [[Tổng thống Mỹ]] [[Woodrow Wilson]] sáng kiến nguyên tắc dân tộc tự quyết và sau này là [[Lenin]] chủ trương "[[Cách mạng thuộc địa]]" lan rộng khắp các thuộc địa để cạnh tranh với nhau. Để giảm bớt sự kháng cự của thực dân, các đế quốc suy yếu bắt đầu nhượng bộ người dân thuộc địa, hứa hẹn quyền tự trị thuộc địa lớn hơn hoặc một hệ thống khai sáng hơn.<ref>Ngô Duệ Nhân, 2001, tr 55</ref>
 
Trong 20 năm tiếp theo, các tổng đốc phủ liên tiếp của tổng đốc tiếp tục chính sách này. Về các biện pháp cụ thể, việc thực hiện quyền tự trị địa phương, thành lập [[Hội bình nghị tổng đốc phủ Đài Loan]], việc ban hành [[chế độ cộng học Nhật-Đài]] và Luật hôn nhân đồng giới, bãi bỏ môn đăng hộ đối và các phần thưởng của Nhật Bản đã được thực hiện. khá hiệu quả trong việc thúc đẩy quá trình đồng hóa và cũng đã thay đổi quá khứ của chuyển đến Shinpei. "không có chính sách làm chính sách", "chỉ cần bảo trì đường sắt, tiêm chủng và nước sinh hoạt" công việc nội bộ và chính sách quản lý<ref>Ngô Tam Liên và cộng sự, 1971, Lịch sử của phong trào dân tộc của Đài Loan.</ref>, vì vậy đây thời kỳ có thể gọi là thời kỳ của chính sách đồng hóa hoàn toàn khác với phương thức quản trị của thời kỳ cầm quyền đầu tiên.
 
=== Thời kỳ chính sách hoàng dân hóa (1937–1945) ===
{{chính|Hoàng dân hóa}}
Từ năm 1937, [[sự kiện Lư Câu Kiều]], kéo dài đến [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] cho đến cuối năm 1945, sự cai trị của [[Đế quốc thực dân Nhật Bản|thực dân Nhật Bản]] ở Đài Loan theo một giai đoạn khác. Kể từ khi Nhật Bản phát động cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc, văn phòng [[Tổng đốc Đài Loan]] lại tiếp tục thành lập chức tùy viên quân sự vào tháng 9 năm 1936 để đáp ứng nhu cầu của thời chiến. Năm 1933, việc Nhật Bản rút khỏi [[Hội Quốc Liên]] dẫn đến lệnh cấm vận và trừng phạt vật chất của Hội Quốc Liên, vì vậy Nhật Bản cần Đài Loan hỗ trợ vật chất cho Hội Quốc Liên. Tuy nhiên, để người Đài Loan làm việc chung thì không nhất thiết người Đài Loan phải hoàn toàn ở nội địa. Vì vậy, ngoài việc hủy bỏ các phong trào xã hội đã cho phép trước đây, văn phòng tổng đốc cũng hoàn toàn tham gia vào phong [[Hoàng dân hóa]]. Phong trào vận động để người Đài Loan học tập đầy đủ về Nhật Bản về tên gọi, văn hóa, ngôn ngữ,... và vận động người Đài Loan tham gia đầy đủ vào công việc thời chiến của mình, và phong trào này tiếp tục cho đến khi Thế chiến thứ hai kết thúc năm 1945. Loại biện pháp này, do văn phòng tổng đốc Đài Loan chỉ đạo và cố gắng thúc đẩy người dân Đài Loan trung thành với Nhật Bản, là phong trào của [[Thiên hoàng]], mà cuối cùng, là một hình thức nội địa hóa cực đoan.<ref>Nói một cách chính xác, "Hoàng dân hóa" đáng lẽ phải bắt đầu vào năm 1936, sau khi Nhật Bản thiết lập "Nam tiến luận" vào tháng 8 năm 1936, và bắt đầu lần lượt vào cuối năm 1936. Năm 1936, sau khi tổng đốc mới [[Kobayashi Seizō]] lên nắm quyền, ông đã công bố ba nguyên tắc cai trị Đài Loan: "Hoàng dân hóa, công nghiệp hóa và nam tiến cơ địa hóa." Cuối năm 1936, phát động "phong trào cải cách chánh điện" tôn giáo, đến tháng 4 và tháng 5 năm sau, chuyên mục [[tiếng Hán]] trên báo bị cấm, phòng văn học chữ Hán bị bãi bỏ. (Lại Kiến Quốc 1997, 78; Vương Dục Đức 1979, 113; Lamley 1999, 235).</ref>
[[Tập tin:Taiwan Grand Shrine.jpg|trái|nhỏ|250px|Đằng trước [[Thần cung Đài Loan]], lá chính thức trong thời Nhật Bản chiếm đóng và bên phải là tem chết của gia huy của Tổng đốc phủ ở Đài Loan]]
 
{{đang viết}}