Khác biệt giữa các bản “Lịch sử Liên Xô”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Sửa đổi di động nâng cao
Ngày 08 tháng 8 năm 1945, Hồng quân Xô viết tuyên chiến với [[Đế quốc Nhật Bản|phát xít Nhật Bản]] và ngày 9 tháng 8 đã phát động chiến dịch Bão tháng tám ở phía đông bắc [[Trung Quốc]] và phía bắc của bán đảo [[Triều Tiên]], để tiêu diệt quân [[Đạo quân Quan Đông|Quan Đông]] của Nhật Bản.
 
== [[Chiến tranh lạnh]] ==
{{Bài chi tiết|Liên Xô trong chiến tranh lạnh}}
Năm 1949, 12 quốc gia do [[Hoa Kỳ]] đứng đầu đã ký [[Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương]] tại [[Washington D.C]], tuyên bố thành lập [[Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương]] (NATO). Liên Xô đã ký [[Công ước Warszawa]] với các đồng minh xã hội chủ nghĩa của mình vào năm 1955, thành lập [[Khối Warszawa]] và tranh đấu với NATO, và bắt đầu Chiến tranh Lạnh.
 
=== Thời kỳ [[Khrushchev]] ===
{{Bài chi tiết|Lịch sử Liên Xô (1953-1985)}}
Năm 1953, [[Stalin]] qua đời. Đã có một vài sự đấu tranh chính trị giữa lãnh đạo hàng đầu của [[Đảng Cộng sản Liên Xô]], người cuối cùng [[Khrushchev Doukua Malenkov]] đã trở thành lãnh đạo tối cao, là Bí thư thứ nhất Trung ương Cộng sản Liên Xô. Kể từ đó, Khrushchev đã chấm dứt các vụ bắt giữ, thả các tù nhân chính trị và khôi phục danh dự cho hàng trăm nghìn người.
Vào tháng 10 năm 1962, cuộc [[Khủng hoảng tên lửa Cuba]] đã nổ ra. Nó gây ra cuộc khủng hoảng quân sự nghiêm trọng nhất giữa [[Hoa Kỳ]] và Liên Xô trong [[Chiến tranh Lạnh]], cuối cùng 2 bên cùng nhượng bộ để tránh chiến tranh.
 
=== Thời kỳ [[Brezhnev]] ===
Năm 1964, [[Khrushchev]] từ chức, [[Brezhnev]] giành được quyền lực chính trị, trở thành thư ký đầu tiên của [[Bộ Chính trị Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô]] (sau này là Tổng Bí Thư) và Liên Xô bước vào thời kỳ Brezhnev. Trong khi đó, có một cơ hội để cải thiện quan hệ Trung-Xô, nhưng cuối cùng thì nó vẫn chưa đủ. Cụ thể, các cuộc xung đột biên giới như sự cố [[đảo Trân Bảo]] và sự cố [[Iron Lekti]] đã làm tăng thêm mâu thuẫn trong mối quan hệ Trung-Xô.
 
Năm 1968, Liên Xô can thiệp vào vụ bạo động ở [[Tiệp Khắc]]. Sự can thiệp vũ trang được gọi là cải cách dân chủ của "Mùa xuân Praha", năm 1979, [[Chiến tranh Xô–Afghanistan (1979–1989)|Liên Xô đưa quân vào Afghanistan]]. Cả hai hành động đã bị các nước phương Tây lên án.
 
Trong thời đạikỳ Brezhnev, Liên Xô đã theo đuổi chính sách mở rộng ảnh hưởng ra khắp thế giới. Ngoài Tập đoàn [[Đông Âu]] và [[Mông Cổ]], [[Việt Nam]], [[Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Yemen|Nam Yemen]], [[Cuba]], [[Angola]], [[Ethiopia]] và các quốc gia khác đã được đưa vào đồng minh của Liên Xô hoặc thành lập các căn cứ quân sự ở các nước này. Brezhnev đề xuất "lý thuyết chủ quyền hạn chế" và tin rằng chủ quyền của các nước xã hội chủ nghĩa bị hạn chế. Ông đề xuất lý thuyết này nhằm nhấn mạnh chủ quyền xã hội chủ nghĩa của các nước khác và đưa các quốc gia khác thành quốc gia đồng minh của Liên Xô. Liên Xô trong thời đại Brezhnev cũng thực hiện một cuộc chạy đua vũ trang quy mô lớn với [[Hoa Kỳ]], làm gia tăng sức mạnh quốc gia nhưng cũng làm gia tăng thêm những khó khăn mà nền kinh tế quốc gia Liên Xô gặp phải.
 
[[Thế vận hội Mùa hè 1980]] được coi là một cửa sổ để thể hiện chủ nghĩa xã hội của Liên Xô với thế giới, nhưng vì [[Chiến tranh Xô–Afghanistan (1979–1989)|chiến tranh Afghanistan]]<ref>{{cite book|author=Yegor Gaidar|title=Collapse of an Empire: Lessons for Modern Russia|url=https://books.google.com/books?id=bDSfnxYjVwAC&pg=PA102|date= 2007|publisher=Brookings Institution Press|page=102}}</ref>}}, nó đã trở thành [[Thế vận hội Olympic]] bị các nước phương Tây tẩy chay.
 
=== Thời kỳ [[Gorbachev]] ===