Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Kền kền râu”

Theo giai thoại, con người đã bị giết theo cách tương tự. Tuy nhiên, điều này vẫn chưa được xác nhận và nếu nó xảy ra, hầu hết các nhà sinh vật học đã nghiên cứu về loài chim này thường đồng ý rằng đó là tình cờ đối với loài kền kền râu. <ref name=RaptorsWorld/> Đôi khi là những loài chim sống trên mặt đất nhỏ hơn, chẳng hạn như [[Perdicinae|gà gô]] và [[Họ Bồ câu]], đã được ghi nhận bì kền kền râu săn bắt, có thể là xác thịt tươi (thường bị kền kền râu bỏ qua) hoặc bị kền kền giết bằng đôi cánh.<ref name=RaptorsWorld/> Trong khi kiếm ăn xương hoặc con mồi sống khi đang bay, kền kền râu bay khá thấp trên mặt đất đá, bay quanh cao {{convert|2|to|4|m|ft|abbr=on}}. <ref name=RaptorsWorld/> Thỉnh thoảng, Các cặp đôi sinh sản có thể kiếm ăn và săn mồi cùng nhau. <ref name=RaptorsWorld/> Ở [[cao nguyên Ethiopia]], kền kền râu đã thích nghi với việc sống phần lớn dựa vào rác thải của con người. <ref name=RaptorsWorld/>
===Sinh sản===
Kền kền râu chiếm một vùng lãnh thổ rộng lớn quanh năm. Nó có thể kiếm ăn hơn 2 km2 (0,77 dặm vuông Anh) mỗi ngày. Thời kỳ sinh sản có thể thay đổi, từ tháng 12 đến tháng 9 ở Eurasia, tháng 11 đến tháng 6 ở tiểu lục địa Ấn Độ, tháng 10 đến tháng 5 ở Ethiopia, quanh năm ở miền đông châu Phi và tháng 5 đến tháng 1 ở miền nam châu Phi. Mặc dù nói chung là sinh sống đơn độc, mối quan hệ giữa một cặp sinh sản thường rất chặt chẽ. Sự chăm sóc chung thủy một vợ một chồng xảy ra ở kền kền râu. Trong một số trường hợp, tình trạng đa phu đã được ghi nhận trong loài. Màn tranh giành lãnh thổ và sinh sản giữa kền kền râu thường rất ngoạn mục, liên quan đến việc phô diễn móng vuốt, nhào lộn và xoắn ốc khi bay một mình. Những con chim lớn cũng thường xuyên khóa chân nhau và bay một khoảng cách trên bầu trời với nhau. Ở châu Âu, các cặp kền kền râu sinh sản được ước tính là 120 con. Tỷ lệ sinh sản trung bình của kền kền râu là 0,43 ± 0,28 con non/cặp sinh sản / năm và mức độ thành công sinh sản trung bình 0.56±0.30 chim non đủ lông đủ cánh/cặp sinh sản/năm.<ref name="Margalida et al. 2003">{{cite journal |last1=Margalida |first1=Antoni |last2=Garcia |first2=Diego |last3=Bertran |first3=Joan |last4=Heredia |first4=Rafael |title=Breeding biology and success of the Bearded Vulture ''Gypaetus barbatus'' in the eastern Pyrenees |journal=Ibis |date=27 March 2003 |volume=145 |issue=2 |pages=244–252 |doi=10.1046/j.1474-919X.2003.00148.x}}</ref>
 
Tổ là một đống lớn các que cây, bề ngang 1 m và chiều sâu 69 cm khi tổ được xây lần đầu lên đền bề ngang 2,5 m và chiều sâu 1 m, với một lớp phủ của các chất động vật khác nhau từ thực phẩm, sau khi sử dụng nhiều lần. Con cái thường đẻ một lứa từ 1 đến 2 quả trứng, mặc dù 3 quả đã được ghi nhận trong những trường hợp hiếm hoi, được ấp trong 53 đến 60 ngày. Sau khi nở, con non dành từ 100 đến 130 ngày trong tổ trước khi ra ràng. Con non có thể phụ thuộc vào bố mẹ đến 2 năm, buộc bố mẹ phải làm tổ trong những năm thay thế một cách thường xuyên. Thông thường, kền kền râu làm tổ trong các hang hốc và trên các gờ và mỏm đá hoặc hang động trên các bức tường đá dốc, vì vậy rất khó khăn cho các động vật có vú ăn thịt tiếp cận tổ của chúng. Kền kền râu hoang dã có tuổi thọ trung bình là 21,4 năm tuổi,<ref name="CJBrown1997">{{cite journal|last1=Brown|first1=C.J.|title=Population dynamics of the bearded vulture ''Gypaetus barbatus'' in southern Africa|journal=African Journal of Ecology|date=March 1997|volume=35|issue=1|pages=53–63|doi=10.1111/j.1365-2028.1997.048-89048.x}}</ref> nhưng đã được quan sát là sống ít nhất 45 năm trong điều kiện nuôi nhốt.<ref name="RJAntor2007">{{cite journal |last1=Antor |first1=Ramón J. |last2=Margalida |first2=Antoni |last3=Frey |first3=Hans |last4=Heredia |first4=Rafael |last5=Lorente |first5=Luis |last6=Sesé |first6=José Antonio |title=First Breeding Age in Captive and Wild Bearded Vultures |journal=Acta Ornithologica |date=July 2007 |volume=42 |issue=1 |pages=114–118 |doi=10.3161/068.042.0106 |doi-access=free }}</ref>
Người dùng vô danh