Khác biệt giữa các bản “Pháp (tôn giáo)”

Đã lùi lại sửa đổi 66009179 của Thanhhbui (thảo luận)
(Đã lùi lại sửa đổi 66009179 của Thanhhbui (thảo luận))
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động Lùi sửa Sửa đổi di động nâng cao
 
{{chú thích trong bài}}
'''Pháp''' (zh. ''fă'' 法, ja. ''hō'', sa. ''dharma'', pi. ''dhamma''), chữcũng được dịch theo âm [[Từ Hán-Việt|Hán-Việt]] là '''Đạt-ma''' (zh. 達磨, 達摩), '''Đàm-ma''' (zh. 曇摩), '''Đàm-mô''' (zh. 曇無), '''Đàm''' (曇). Chữ ''dharma'' vốn xuất phát từ [[tiếng Phạn]], ngữ căn √'''dhṛ''', có nghĩa là "nắm giữ", đặc biệt là nắm giữ tính năng hoạt động của con người. Cách dùng chữ thuật ngữ này rất đa dạng, và vì vậy, nó mang rất nhiều nghĩa:
# Tập quán, thói quen, tiêu chuẩn của phép cư xử;
# Điều phải làm, nghề nghiệp, bổn phận, nghĩa vụ;
# Bản thể, bản tính;
# Căn bản nhân đạo;
# Thuộc tính, phẩm chất, đặc tính, cấu trúc cơ bản. Ý nghĩa này của thuật ngữ thường được dùng trong các luận giải của [[Duy thức tông|Du-già hành tông]], liệt kê tất cả kinh nghiệm thế gian thành 100 Pháppháp hoặc 100 cấu trúc cơ bản. Họ cho rằng, các Pháppháp không tồn tại trên cơ sở tự tính này hàng [[Nhị thừa]] không thể nào nhận thức được, nhưng là một đối tượng quán sát đặc biệt của hàng [[Bồ Tát]]. Không nhận thức được tính không của các cấu trúc cơ bản là điều rất quan trọng cho sở tri chướng. Xem thêm [[Bách pháp]].
# Trong luận lý học, là tiền đề hay là đối tượng của một động từ.
 
Tổng quát lại, người ta có thể hiểu Pháp là "tất cả những gì có đặc tính của nó - không khiến ta lầm với cái khác - có những khuôn khổ riêng của nó để nó làm phát sinh trong đầu óc ta một khái niệm về nó" (nhậm trì tự tính, quỹ sinh vật giải 任持自性、軌生物解).
 
Pháp vốn được sử dụng trong Ấn Độ giáo, với ý nghĩa là Chânchân lý, thiện Pháppháp. Tương phản với [[thiện|cái thiện]] là phi Pháppháp. ĐạoPhật Bụtgiáo cũng có tư tưởng là thiện Pháppháp nhưng nói rộng hơn thì [[ác|cái ác]], phiền não, khổ, cũng là Pháp. Theo ngài luận sư Giác Âm thì Pháp có 4 nghĩa như: Thuộc tính; Giáogiáo Pháppháp; thánh điển và sự vật (bao gồm vật nhìn thấy và không nhìn thấy). Còn đối với đạoPhật Bụtgiáo nguyên thủy thì Pháppháp bao gồm: Hiện tượng và tâm lý, như ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hay duyên khởi cũng là pháp. Đối với khái niệm trong pháp luật, pháp số... thì đó lại là những quy phạm của con người trong đời sống cộng đồng.
Ví dụ: Khi một người nhìn vào một tượng BụtPhật hay một sự vật nào đó, người đó sẽ sinh khởi các hành động, tư tưởng, ý kiến, đưa ra các Giáogiáo lý,... Đó là người đó đang an trụ trong Pháppháp, ta xét ở ví dụ này là người đó sẽ bái lạy tượng BụtPhật mỗi ngày đó là thực hành PhápPhật Bụtpháp. Tương tự như vậy, ta sẽ có khái niệm tổng quát hơn về Pháppháp, khi một đối tượng tiếp xúc, bắt gặp, giao tiếp với một đối tượng, họ sẽ sinh khởi các Pháppháp, nếu hai đối tượng đó ngừng tiếp xúc, bắt gặp, giao tiếp với nhau thì Pháppháp cũng sẽ dừng.
== Tham khảo ==
{{tham khảo}}