Khác biệt giữa các bản “Olga Tokarczuk”

không có tóm lược sửa đổi
(Trang mới: “{{Infobox writer <!-- for more information see Template:Infobox writer/doc --> |name = Olga Tokarczuk |image = Olga Tokarczuk-9739.jpg |caption = Tokarczuk năm 2019 |birth_date = {{birth date and age|1962|1|29|df=y}} |birth_place = Sulechów, Ba Lan |death_date = |death_place = |nationality = Ba Lan |occupation = {{hlist|Tiểu thuyết gia | nhà tiểu luận | nhà thơ | nhà tâm lý học |…”)
Thẻ: Người dùng thiếu kinh nghiệm thêm nội dung lớn
 
Thẻ: Thêm liên kết dưới Liên kết ngoài hoặc Tham khảo
}}
 
'''Olga Nawoja Tokarczuk'''<ref>{{Cite web|url=https://rejestr.io/krs/243763/stowarzyszenie-kulturalne-gory-babel|title=Stowarzyszenie Kulturalne Góry Babel|work=Krajowy Rejestr Sądowy|via=Rejestr.io|access-date=10 October 2019}}</ref> ({{IPAc-pl|t|o|'|k|a|r|cz|u|k}}; sinh ngày 29 tháng 1 năm 1962) là một nhà văn, nhà hoạt động,<ref>{{Cite web|url=https://style.hnonline.sk/kultura/2021350-nobelove-ceny-za-literaturu-su-zname-laureatom-za-rok-2018-je-olga-tokarczukova-za-rok-2019-peter-handke|title=Nobelove ceny za literatúru sú známe: Laureátom za rok 2018 je Olga Tokarczuková, za rok 2019 Peter Handke|language=sk|trans-title=Nobel prizes in literature are known: Olga Tokarczuk for 2018, Peter Handke for 2019|date=10 October 2019|website=style.hnonline.sk}}</ref> và nhà thơ, nhà tâm lý học [[người Ba Lan]]<ref name=":0">{{cite news|date=22 May 2018|title=Olga Tokarczuk's 'extraordinary' Flights wins Man Booker International prize|work=[[The Guardian]]|url=https://www.theguardian.com/books/2018/may/22/olga-tokarczuk-flights-wins-man-booker-international-prize-polish|access-date=22 May 2018}}</ref> được coi là một trong những tác giả được giới phê bình đánh giá cao và thành công nhất trong thế hệ của bà ở Ba Lan. Năm 2019, bà được trao [[giải Nobel Văn học]] với tư cách là nhà văn nữ Ba Lan đầu tiên "trí tưởng tượng và niềm say mê kiến thức rộng lớn, đã thể hiện những hành trình vượt qua các ranh giới như một dạng thức của sự sống." Đối với cuốn tiểu thuyết ''[[Flig''[[Primeval and Other Times]]'', ''[[Drive Your Plow Over the Bones of the Dead]]'', và ''[[The Books of Jacob]]''.
==Tiểu sử==
Olga Nawoja Tokarczuk sinh năm 1962, tại Sulechow, [[Sulechów]] gần [[Zielona Góra]], ở tây Ba Lan. Cha mẹ bà là Wanda Słabowska và Józef Tokarczuk, là những giáo viên và có một chị em gái.<ref name=":4">{{Cite web|last=Szałagan|first=Alicja|date=2019-10-10|title=Olga Tokarczuk – Polscy pisarze i badacze literatury przełomu XX i XXI wieku|url=http://www.ppibl.ibl.waw.pl/mediawiki/index.php?title=Olga_TOKARCZUK|url-status=live|access-date=2021-06-07|website=ppibl.ibl.waw.pl|publisher=[[Polish Academy of Sciences|PAN]]'s Literary Research Institute|language=pl}}</ref> Cha mẹ cô đã được tái định cư từ [[Kresy | các khu vực phía đông cũ của Ba Lan]] sau [[Chiến tranh thế giới thứ hai |thế chiến hai]]; một trong những người bà của bà là người gốc [[người Ukraina|Ukraina]].<ref>«Всесвіт», 2009, №&nbsp;11–12.&nbsp;— С. 181</ref><ref>{{cite web|title=Лауреат Нобелівської премії з літератури за 2018: що відомо про українське походження Токарчук – Lifestyle 24|url=https://24tv.ua/lifestyle/laureat_nobelivskoyi_premiyi_z_literaturi_za_2018_shho_vidomo_pro_ukrayinske_pohodzhennya_tokarchuk_n1217520|website=24 Канал}}</ref><ref>{{cite web|date=25 September 2011|title=Ольга ТОКАРЧУК: "Коли бачу вулицю Бандери, у мене мороз по шкірі"|url=http://gk-press.if.ua/x5317/|website=Галицький Кореспондент|language=uk}}</ref> Gia đình sống ở vùng nông thôn ở [[Klenica]], cách Zielona Góra khoảng 11 dặm, nơi cha cô điều hành một thư viện trường học, nơi cô tìm thấy niềm yêu thích văn học của mình.<ref name="NYT-20191010" /> Cha cô là thành viên của đảng cộng sản [[Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan]].<ref>{{Cite web|url=https://dorzeczy.pl/kraj/123145/gp-o-tokarczuk-gdyby-jej-ojciec-byl-w-solidarnosci-walczacej.html|title="Gazeta Polska" o Tokarczuk. "Gdyby jej ojciec był w Solidarności Walczącej..."|date=11 December 2019|website=Do Rzeczy}}</ref> Tokarczuk ưa thích tiểu thuyết của [[Henryk Sienkiewicz]] ''[[In Desert and Wilderness]]'' và các truyện cổ tích.<ref name=":3">{{cite web|last=Czernecka|first=Gabriela|date=2020-12-10|title=Nie uważa się za idealną żonę i matkę. Kim prywatnie jest Olga Tokarczuk?|url=https://viva.pl/kultura/rodzina-olga-tokarczuk-dzieci-maz-pochodzenie-121193-r1/|url-status=live|access-date=2020-03-30|website=Viva.pl|language=pl}}</ref> Sau đó họ chuyển về phía đông nam đến [[Kietrz]] ở [[Opolian Silesia]], nơi cô tốt nghiệp Trung học [[Cyprian Norwid|C.K. Norwid]].<ref name=":2">{{cite news|date=2019-10-11|title=Sąsiedzi Olgi Tokarczuk: Jesteśmy dumni|publisher=Fakt.pl|url=https://www.fakt.pl/wydarzenia/polska/wroclaw/sasiedzi-olgi-tokarczuk-jej-gratuluja/l6hbxdz#slajd-12|access-date=1 May 2020}}</ref> Năm 1979, cô ra mắt với hai truyện ngắn đăng trên tạp chí trinh sát thanh niên ''Na Przełaj''. Bà cũng là nhà văn theo trào lưu nữ quyền và hiện thực huyền ảo.
Olga Nawoja Tokarczuk sinh năm 1962, tại Sulechow, Ba Lan. Bà cũng là nhà văn theo trào lưu nữ quyền và hiện thực huyền ảo.
Trước khi nổi tiếng với sự nghiệp văn chương, từ năm 1980, theo học ngành tâm lý học tại Đại học Warsaw. Trong thời gian sinh viên, bà làm tình nguyện viên cho một viện tâm thần cho thanh thiếu niên có các vấn đề về hành vi. Sau khi tốt nghiệp năm 1985, ban đầu bà đến Wrocław và sau đó đến Wałbrzych, để hành nghề trị liệu. Tokarczuk tự coi mình là học trò của Carl Jung và trích dẫn tâm lý học của mình như một nguồn cảm hứng cho tác phẩm văn học. Từ năm 1998, Tokarczuk sống trong một ngôi làng nhỏ gần Nowa Ruda, nơi bà quản lí công ty xuất bản riêng Ruta.
 
==Tham khảo==
{{tham khảo}}
[[Thể loại:Người đoạt giải Nobel Văn chương]]
[[Thể loại:Người Ba Lan đoạt giải Nobel]]
[[pl:Olga Nawoja Tokarczuk]]
[[fr:Olga Tokarczuk]]
Người dùng vô danh