Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Lý Tự Thành”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Đã được lùi sửa
Không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Đã được lùi sửa Soạn thảo trực quan
| nơi an táng =
}}
'''Lý Tự Thành''' ([[chữ Hán]]: 李自成); ([[1606]] - [[1645]]) nguyên danh là '''Hồng Cơ''' (鴻基), là nhân vật thời ''"Minh mạt Thanh sơ"'' trong [[lịch sử Trung Quốc]], ông đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa lật đổ [[nhà Minh]] vào năm [[1644]], chiếm được kinh thành, lên ngôi hoàngHoàng đế, tự xưng là '''Đại Thuận hoàngHoàng đế''' lập ra nhà [[Đại Thuận]].
 
Nhưng sau đó, quân [[Nhà Thanh|Mãn Châu]], với sự thông đồng của [[Ngô Tam Quế]], tràn vào Trung Quốc lập nên [[Nhà Thanh]] năm 1644, đã lật đổ và tiêu diệt toàn bộ lực lượng của Lý Tự Thành. Sau khi mất, ông được truy [[Miếu hiệu]] là [[Cao Tổ]].
== Cuộc đời ==
===Khởi nghĩa chống Minh===
Lý Tự Thành sinh ngày [[22 tháng 9]] năm [[1606]] tại huyện [[Mễ Chi]], tỉnh [[Thiểm Tây]]. Lý Tự Thành từ nhỏ đã đi chăn cừu thuê cho một gia đình họ Ngãi, năm 21 tuổi do đánh chết người nên phải bỏ trốn sang [[Ngân Xuyên]]. Năm [[1627]], [[Minh Tư Tông|Sùng Trinh]] lên ngôi [[hoàngHoàng đế]], triều [[nhà Minh|Minh]] mục nát, ông đang gắng sức gây dựng phục hưng cơ nghiệp thì chiến sự lại liên miên.
 
Bấy giờ, cả nước đang nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân mang tính tự phát. Năm [[1630]], [[Trương Hiến Trung]] khởi nghĩa tại Mễ Chỉ -Thiểm Tây, tự xưng là "Bát Đại Vương". Lý Tự Thành cũng giết chết quan tham rồi làm phản, sau đó đến làm "Sấm Tướng" trong đạo nghĩa quân do người cậu là [[Cao Nghênh Tường]] lãnh đạo.
 
Năm [[1635]], triều đình cử hai đạo quân đến vây đánh nghĩa quân thất trận tan tác. Sau lần bị thất bại này, Lý Tự Thành và nhiều lãnh tụ nông dân khác đã ý thức được rằng: chỉ có liên hợp tác chiến thì mới có sức mạnh, nên năm đó 13 đạo nghĩa quân đã tụ tập ở Dinh Dương tỉnh [[Hà Nam (Trung Quốc)|Hà Nam]] để phối hợp tác chiến.
 
Năm [[1636]], Cao Nghênh Tường khinh địch chủ quan không may bị bắt rồi bị sát hại. Lý Tự Thành với danh hiệu "Sấm Vương" tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân tác chiến, liên tục giằng co với quân Minh.
 
Nghĩa quân Lý Tự Thành mỗi khi đến đâu đều phá quan phủ, mở kho lương chia cho nông dân. Tuy vậy nghĩa quân của Lý Tự Thành cũng trải qua nhiều thảm bại. Năm [[1637]], nghĩa quân bị lọt vào ổ mai phục, đội ngũ bị đánh tan, Lý Tự Thành cùng mười mấy người khác buộc phải lẩn trốn trong vùng rừng núi Thương Lạc.
 
Năm [[1639]], Lý Tự Thành dẫn quân xuống núi, nhưng lại bị vây khốn trong núi Ngư Phục - Ba Tây, ông dẫn 50 kỵ binh phá vây chạy về [[Hà Nam]]. Bấy giờ tỉnh Hà Nam đang bị đại hạn, hàng vạn nông dân kéo theo quân khởi nghĩa, khiến số quân tăng đến khoảng 60 vạn.
 
Năm [[1641]], Lý Tự Thành tự xưng là “Phụng Thiên Xướng Nghĩa Đại nguyên soái”, khuyến dụ nạn dân với ruộng đất và tài sản, kêu gọi khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa và cuộc đời của Lý Tự Thành gắn liền với huyền thoại về một cuộc tranh giành giang sơn của [[Minh Tư Tông|Sùng Trinh]] Hoàng đế và tranh giành mỹ nhân [[Trần Viên Viên]] với [[Ngô Tam Quế]] vào thời Minh mạt, Thanh sơ.
 
Tích nhân gian kể lại rằng, do việc Sùng Trinh Hoàng đế ban tặng kỹ nữ Trần Viên Viên vốn là người tình cũ của Lý Tự Thành cho Tổng binh Ngô Tam Quế làm ái thiếp để trấn an, khi Ngô Tam Quế cầm 10 vạn quân trấn giữ [[Sơn Hải quan|Sơn Hải Quan]], nên Tự Thành khởi nghĩa chống triều Minh.
 
Vào lúc này, triều đình [[nhà Minh]] có ngoại hoạn là Mãn Châu ở đôngĐông bắcBắc, một khi [[Hoàng Thái Cực]] và [[Đa Nhĩ Cổn]] vượt qua [[Vạn Lý Trường Thành]], sẽ là thảm họa. Từ khi [[Hồng Thừa Trù]][[Tổ Đại Thọ]] đầu hàng, quốc thổ Đại Minh đã mất hết cả [[Liêu Đông]] lẫn [[Liêu Tây. [[Sơn(tỉnh)|Liêu HảiTây]]. quan|Sơn Hải Quan]] là quan ải yết hầu duy nhất của Vạn Lý Trường Thành tiếp giáp biển, nếu Ngô Tam Quế quyết tâm chống giữ thành trì, người Mãn Thanh khó xâm nhập Trung Nguyên.
 
Tuy Hoàng Đếđế Sùng Trình thức khuya dậy sớm, cố tự sức chống giữ triều cương, nhưng trong triều đảng tranh liên tục, quân sỹ thương vong cao, đào ngũ liên miên, rồi tướng lĩnh bất tài, không hỗ trợ lẫn nhau, nên tình hình càng lúc càng khó khăn hơn. Của cải đã bị [[Minh Thần Tông]] dùng hết, bao nhiêu năm tiền của kiếm được phải dành cho quốc phòng, lại những vương công và quan viên bòn rút tham nhũng, nên thế nước cứ mỗi ngày một xuống. Trong lúc đó, cả nước bị đói nghèo, đại loạn, đất Thục bị [[Trương Hiến Trung]] chiếm, Đồng Quan có Lý Tự Thành.
 
===Thành lập Đại Thuận, đánh đổ nhà Minh===
Năm [[1643]], Lý Tự Thành lên làm "Tân Thuận Vương", chính thức thành lập bộ máy chính quyền mới tại [[Tương Dương (thành cổ)|Tương Dương]] và đổi tên gọi là Tương Kinh. Tháng 10- năm [[1643]], nghĩa quân Lý Tự Thành đánh chiếm được khu vực Thiểm Tây – Cam Túc ở miền Tây Bắc rộng lớn, hiểm trở xây dựng thành căn cứ kháng chiến lâu dài.
 
Mùa xuân năm [[1644]], trung tâm chính quyền mới được dời đến [[Tây An]], “Sấm Vương” được đổi thành “Đại Thuận Vương” và đặt niên hiệu là “Vĩnh Xương”. Lý Tự Thành cho ban bố lịch thư mới, cho đúc tiền “Vĩnh Xương”, tuyển lựa quan viên tiếp quản chính quyền địa phương... Bấy giờ, nghĩa quân đã lên tới triệu người, Lý Tự Thành bắt đầu phát động chiến tranh tổng lực với Đại Minh.
 
Thế mạnh như chẻ tre, không bao lâu nghĩa quân lần lượt đánh chiếm được [[Thái Nguyên, Sơn Tây|Thái Nguyên]], [[Đại Đồng, Sơn Tây|Đại Đồng]], [[Cư Dung quan|Cư Dung Quan]][[Xương Bình]]. Ngày 17-3-1644, tiến tới bao vây [[Bắc Kinh]]. Trong vòng 10 năm, kinh sư đã giới nghiêm không dưới chục lần. Lý Tự Thành gửi thư tới cho Sùng Trinh, yêu cầu cho mình được làm Thanh Quân Trắc, được phong vương ở đất Thiểm. Sùng Trinh kiên quyết không theo.
 
Ngày 19-3-1644, quân Lý Tự Thành tiến vào Bắc Kinh, các quan viên triều đình đều mạnh ai nấy bỏ trốn. Sùng Trinh Hoàng đế treo cổ tự tử dưới gốc cây trên Môi Sơn. Quân Đại Thuận vào được Bắc Kinh, kịch chiến với Cẩm Y Vệ rồi mới vào được hoàng[[Tử Cấm Thành|Hoàng cung Bắc Kinh]].
 
Lý Tự Thành vào Bắc Kinh, thấy Sùng Trình đã tự sát, bỗng chốc sầu thảm mà rằng: ''"Thần định làm Thanh Quân Trắc, trước diệt gian thần, sau đả Di Địch, cùng hoàngHoàng thượng hưởng phúc, đâu ngờ Thánh Giá phải tuẫn tiết vì nước vậy. Cũng đều là do gian thần mà ra."'' Nói rồi, quyết giết hại hết các bá quan trong triều.
 
Quân Lý Tự Thành tràn đầy phố phường từ đầu này sang đầu khác. Vài trăm người ruổi ngựa chạy thẳng vào Tử Cấm Thành. Vì sợ hãi, dân chúng ai nấy đều bày hương án để bái vọng. Những chữ Thuận hay Thuận Thiên Vương, Vĩnh Xương nguyên niên tân quân vạn tuế… được viết dán đầy cánh cửa. Nhiều người viết hai chữ Thuận dân (bầy tôi triều Thuận) dán trên trán.Khi mới vào Bắc Kinh, Lý Tự Thành và các viên chức cao cấp cũng cố gắng quản lý binh sĩ không cho nhũng nhiễu dân chúng, nhưng một thời gian ngắn sau vì họ phải đối phó với nhiều nguy cơ khác nhau từ nhiều phía, mặt khác không dám làm mạnh sợ binh lính nổi loạn nên đành nhắm mắt làm ngơ cho thủ hạ cướp bóc.
Ngày 20 tháng 3 năm Giáp Thân (26 tháng 4 năm 1644) tức hôm sau ngày Lý Tự Thành vào Bắc Kinh, Sấm Vương ra thông cáo kêu gọi các quan nhà Minh đến thiết triều vào ngày 21, nếu ai muốn làm quan với triều Thuận thì làm, còn không thì cho về quê. Sáng sớm hôm sau, khoảng hơn 3.000 quan lại cũ tụ tập tại cửa Ðông Hoa nhưng bị đối đãi rất tệ hại, lùa tất cả qua cửa Thừa Thiên. Lý Tự Thành không xuất hiện và quan lại nhà Minh được lệnh tái trình diện vào ngày 23 tháng 3.
 
Hai hôm sau, tất cả bị tập trung cùng với một số quan lại bị Sấm Vương bắt từ trước, đứng đợi trong nhiều giờ. Mãi tới chiều tối hôm đó, Lý Tự Thành mới bước ra nghe tuyên đọc tên từng người, mỗi người một bản cáo trạng dài. Trong số hơn 3.000 người đó, quân sư [[Ngưu Kim Tinh]] chọn ra 92 người trong đó có [[Chu Chung]] (周鍾), một danh thần của nhà Minh, để phục vụ cho triều đình mới, một danh sĩ khác là [[Trần Danh Hạ]] (陳名夏) cũng được phục chức và Hàn Lâm Việnviện được tái lập dưới cái tên mới là [[Hoằng Văn Quán]] (弘文館). Những người còn lại được áp tải trở ra giam ở ngoài Tử Cấm Thành. Khi nhìn đám quan lại phủ phục trước mắt, Lý Tự Thành khinh miệt thành phần quan lại của Minh triều, nay lại quay sang xu nịnh chủ mới. Ông nói trắng ra rằng ''"những kẻ không dám tận trung tận hiếu với cựu triều thì mong gì có thể phục vụ tân triều hết lòng hết sức được”'' và ''"một triều đình đầy rẫy những kẻ vô liêm sỉ thế kia thì làm sao mà không loạn?”''
 
===Thất bại và cái chết===
Từ Sơn Hải Quan, tướng Minh là [[Ngô Tam Quế]] nhận lệnh cứu viện Bắc Kinh đúng 10 ngày mới xuất binh hồi kinh. Sự dùng dằng, chậm trễ này khiến cho nhiều nhà sử học hoài nghi về Ngô Tam Quế. Nhưng sự thật, có thể hiểu trong phạm vi hơn 200 dặm cách thành Bắc Kinh, Ngô Tam Quế không mấy khó khăn tiêu diệt quân phản loạn Lý Tự Thành với đội binh thiện chiến, giàu kinh nghiệm chiến đấu của mình. Nhưng nỗi lo lắng Sơn Hải Quan sẽ thất thủ làm cơ hội cho người Mãn Thanh vượt qua tiến vào Trung Nguyên một khi Ngô Tam Quế rút bớt quân, quay về Bắc Kinh cứu giá. Có lẽ đây mới là điều giải thích thỏa đáng nhất.
 
Lý Tự Thành đã bắt cha và gia quyến của Ngô Tam Quế để uy hiếp ông ta. Ngô Tam Quế kéo quân về Bắc Kinh cứu viện đến nửa đường thì nhận tin cấp báo: thành Bắc Kinh đã bị loạn quân Lý Tự Thành chiếm, Sùng Trinh Hoàng đế chạy đến núi Môi Sơn tuẫn tiết. Quan trọng hơn cả là ái thiếp [[Trần Viên Viên]] đã bị [[Lưu Tông Mẫn]], một viên Tướng của Lý Tự Thành bắt giữ. Ngô Tam Quế nổi giận, liền quay về Sơn Hải Quan.
 
Trong một tháng sau đó, Lý Tự Thành liên tiếp sai nhiều đạo quân lên đánh Ngô Tam Quế, phần lớn là những tướng lãnh và quân đội cũ của nhà Minh mới thu nhận. [[Ðường Thông]] bị Ngô Tam Quế đánh bại đầu tháng 4 rồi sau đó [[Bạch Quảng Ân]] lên hợp lực cũng không thành công (cả hai đều là tướng cũ nhà Minh). Ngô Tam Quế nhân đà thắng toan điều đình với Sấm Vương để ngừng chiến với điều kiện Lý Tự Thành trao lại cho yHiến Mẫn tháiThái tử [[Chu TửTừ Lãng]] của vua Sùng Trinh hiện đang trong tay Thuận quân nhưng khi đó Lý Tự Thành đã chuẩn bị đích thân tiến đánh Sơn Hải Quan nên việc không thành.
 
Lực lượng trong tay Lý Tự Thành khi đó vào khoảng 6 vạn quân. Ngô Tam Quế cho người sang liên lạc với chú và các người thân đang làm việc cho triều đình Mãn Châu ở [[Thẩm Dương|Thịnh Kinh]] để liên minh chống Lý Tự Thành. Ngày 15 tháng 4 (20-05-1644), Ngô Tam Quế sai hai tuỳ tướng là [[Dương Thân]] (楊珅) và [[Quách Vân Long]] (郭雲龍) đến trại quân Thanh, mang bức thư gửi vua Thanh:
:''Tiểu tướng đã ngưỡng mộ ân đức của Bắc Triều từ lâu, hiềm vì theo kinh Xuân Thu, thần tử không được vượt biên ải nên trước nay chưa hề qua lại. Bệ Hạ chắc cũng biết phận bề tôi phải tận trung. Ðến nay vì Ninh Viễn hẻo lánh nên quốc quân ra lệnh bỏ về trấn đóng ở Sơn Hải Quan, cốt để củng cố mặt đông và bảo vệ kinh thành.''
:''Ngờ đâu bọn lưu khấu nổi lên lật đổ hoàngHoàng đế. Làm sao một bọn tiểu tặc ô hợp như thế lại có thể làm được chuyện này? Ấy chỉ vì tiênTiên đế bất hạnh nên kinh sư lỏng lẻo, lại thêm một bọn phản thần mở cửa đón giặc vào nên tôngTông miếu mới ra tro.''
 
Ngay khi nhận được thư của Ngô Tam Quế, Đa Nhĩ Cổn liền ra lệnh cho kỳ binh Mãn Châu lập tức tiến xuống Sơn Hải Quan. Chỉ hơn một ngày quân Thanh đã tiến gần 100 km, và ngày 21 tháng 4 âm lịch (26/5/1644) thì hạ trại chỉ còn cách Sơn Hải Quan 8 km, ngựa không tháo cương, người không cởi giáp. Nửa đêm hôm đó hai tướng Ajige và Dodo[[Đỗ Độ]] chỉ huy hai cánh tả hữu trải ra, còn lực lượng chính thì đích thân Đa Nhĩ Cổn tiến vào quan ải. Sáng hôm sau, Ngô Tam Quế cho mở cổng Sơn Hải Quan, kết hợp với [[Đa Nhĩ Cổn]] dẫn quân Mãn Thanh vào tiến đánh chiếm lĩnh thành Bắc Kinh vào Tháng 5/1644. Chính quyết định này của Ngô Tam Quế đã mở đường cho quân Mãn Thanh tiến vào Trung Nguyên lập nên triều đại Mãn Thanh thống trị Trung Quốc gần 300 năm.
 
Lý Tự Thành đem quân nghênh chiến Quế tại Sơn Hải Quan. Ngô Tam Quế tiến lên kịch chiến với Lý Tự Thành ở bờ sông Sa, tưởng đâu đã thất bại. May sao một trận bão cát thổi đến và nhờ gió bụi che mắt, kỵ binh quân Thanh vòng lên đánh vào ngang hông lực lượng của Sấm Vương khiến cho đối phương tán loạn phải bỏ chạy. Lý Tự Thành cố gắng tái tổ chức lực lượng để đương cự nhưng một số đông mất tinh thần chạy thẳng về Bắc Kinh làm cho Sấm Vương cũng phải chạy theo. Thuận quân thua trận đâm ra mất kiểm soát, tới đâu cũng đốt phá, cướp bóc không sao ngăn được, nhiều khu vực lớn bị tan hoang thành bình địa. Tin thắng trận của Ngô Tam Quế truyền tới, nhân dân Bắc Kinh vui mừng khi nghe đồn rằng một hoàngHoàng tử nhà Minh sẽ lên nối ngôi.
 
Ngày 26 tháng 4 năm Giáp Thân (31-5-1644), Lý Tự Thành về đến kinh đô lại cướp phá tất cả các công đường và quan lại. Trong cơn tuyệt vọng sau cùng, Lý Tự Thành quyết định lên ngôi hoàngHoàng đế. Một buổi đăng quang tổ chức vội vã ngày 29 tháng 4 (3/6/1644) trong khi thuộc hạ được lệnh chuẩn bị bỏ chạy. Ngày hôm sau Lý Tự Thành cho đốt cung điện rồi cưỡi ngựa kéo quân ra cửa tâyTây, để lại kinh thành khói lửa ngất trời. Tổng cộng Sấm Vương chiếm đóng Bắc Kinh được 42 ngày và làm hoàngHoàng đế chưa đầy một buổi.
 
Người dân Bắc Kinh chờ đón Ngô Tam Quế như một cứu tinh để tái lập nhà Minh. Sáng sớm ngày 1/5 âm lịch (tức 5/6/1644), các bô lão và quan viên trong thành Bắc Kinh đều ra khỏi thành 20 dặm để nghênh đón. Khi đại quân đến thì họ đưa ra một người để hướng dẫn vào kinh đô. Thế nhưng người cầm đầu đoàn quân đến tiếp thu kinh thành lại là [[Đa Nhĩ Cổn]], Duệ Thân Vươngvương người Mãn Châu. Ðám đông ai nấy đều ngơ ngác, có người lại cho rằng đây có lẽ là hậu duệ của vua [[Minh Anh Tông]] (vua nhà Minh trước đây bị quân Mông Cổ bắt ra ngoài quan ải) nhưng không ai dám lên tiếng. Sau đó Đa Nhĩ Cổn tiến vào điện Võ Anh, ra lệnh cho [[Lý Minh Duệ]] (李明睿) làm thịThị lang bộ Lễ để chuẩn bị công việc an táng cho [[Minh Tư Tông]], đồng thời ra tuyên cáo chiêu an dân chúng, hứa sẽ tha cho bất cứ ai quy thuận và chịu cạo đầu, dóc tóc theo kiểu người Mãn Châu, những ai chống lại sẽ bị tận diệt.
 
Tàn quân của Lý Tự Thành bị Ngô Tam Quế và quân Thanh truy đuổi ráo riết, tiếp tục kháng cự yếu dần tại các khu vực Hà Nam, Sơn Tây và Thiểm Tây. Đến khoảng tháng 4- năm [[1645]], trong lúc Lý Tự Thành đang quan sát địa hình trên núi Cửu Cung, huyện Thông Sơn, tỉnh [[Hồ Bắc]] thì bị nhóm vũ trang tập kích giết chết vào năm ông 39 tuổi.
 
== Cái chết của Lý Tự Thành ==
Lý Tự Thành chết vào năm Thuận Trị thứ ba ([[1645]]). Minh sử viết: ''"Lý Tự Thành bị bọn dân quê vây, không thoát được nên thắt cổ tự tử"''. Sách Minh Quý bắc lược lại đưa ra một cách lý giải khác: ''"Lý Tự Thành bị bệnh, chết trong núi La Công".''
 
[[Thuận Trị]] Hoàng đế của nhà Thanh rất bất an về Lý Tự Thành nếu ''“diệt cỏ không diệt tận gốc”'' sẽ di họa về sau. Nhà Vuavua sai các tướng lĩnh truy kích Lý Tự Thành phải tìm cho ra những bằng chứng về cái chết của nhân vật thủ lĩnh phong trào nông dân này.
 
Tướng [[Hà Đằng Giao]] gởigửi bản tấu về Bắc Kinh có đoạn: ''"Không có chứng cứ gì về cái chết của Sấm, thủ cấp của Sấm cũng không thấy".'' Tướng [[A Tế Cách]] (Mãn Châu) cũng có bản tấu về, có đoạn: ''"Có tên hàng binh ra trình rằng Lý Tự Thành chạy vào núi Cửu Cung, bị dân quê vây, tự thắt cổ mà chết"''. Nói chung, chẳng có ai có được bằng chứng đích xác khẳng định Lý Tự Thành đã chết hay còn sống và nếu chết, thì chết như thế nào. Tất cả đều chỉ là tin đồn, lời khai lan man.
 
Còn có hai tư liệu lịch sử khác lại cho rằng Lý Tự Thành vẫn còn sống. Sách Phong Châu kí viết: ''"Lý Tự Thành chạy trốn đến Giáp Sơn, xuất gia đi tu, bảy mươi tuổi (1676) mới chết ở tư thế ngồi...''". Tác giả Giang Dục Chí lại viết Lý Tự Thành mộ chí, có đoạn: ''"Lý Tự Thành quả thực chạy về Phong Châu... cưỡi ngựa mà đi, đến Giáp Sơn đi tu, chết mộ vẫn còn".'' Theo Giang Dục Chí, tháp xây trên mộ Lý Tự Thành có hàng chữ ''"Phụng Thiên Ngọc hoàHoà thượng"''. Giang Dục Chí cũng khẳng định rằng Lý Tự Thành đi tu năm Thuận Trị thứnguyên nhấtniên và là người quan niệm: ''“Thắng làm Vua, bại làm là cách sống của người Trung Quốc”.''
 
== Trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung ==
- Trong ''Bích Huyết kiếm'', nhân vật chính [[Viên Thừa Chí]], con trai của võ tướng [[Viên Sùng Hoán]] đã lãnh đạo hào kiệt trong giang hồ giúp Lý Tự Thành công phá thành [[Bắc Kinh]]. Từ góc nhìn của các nhân sĩ võ lâm, ''Bích Huyết kiếm'' thuật lại nhiều sự kiện mấu chốt trong giai đoạn lịch sử cuối đời Minh, từ khi [[Minh Tư Tông|Sùng Trinh]] suy sụp, Lý Tự Thành lên ngôi, đến khi quân Thanh nhập quan.
 
- Trong ''Lộc đỉnh ký'', Lý Tự Thành đã trốn lên chùa đi tu, nhưng vẫn muốn báo thù Ngô Tam Quê, và khôn nguôi nhớ đến mối tình với [[Trần Viên Viên]]. Ông sống đến năm Khang HyHi thứ 10 ([[1672]]) và có với Trần Viên Viên một đứa con là [[Trần A Kha]], về sau trở thành một trong những người vợ của [[Vi Tiểu Bảo]]. Khi Vi Tiểu Bảo làm Tứ hôn sứ gả [[côngHòa Thạc Khác Thuần Trưởng Công chúa|Công chúa Kiến Ninh]] qua [[Vân Nam]] làm vợ [[Ngô Ứng Hùng]], con trai Ngô Tam Quế, đã gặp Trần Viên Viên và chứng kiến cuộc chiến giữa 2 kẻ thù không đội trời chung là Lý Tự Thành và Ngô Tam Quế.
 
- Trong ''Tuyết sơn phi hồ'' có nói đến giả thuyết Lý Tự Thành sau khi chiếm Bắc Kinh đã thu được 1 lượng kho báu khổng lồ và ông đã để cho 4 thuộc hạ thân tín của mình là Hồ, Miêu, Phạm, Điền chôn giấu nên sau này xảy ra mâu thuẫn giữa 4 nhà, gây nên sóng gió trong giang hồ.
Người dùng vô danh