Khác biệt giữa các bản “Người Việt tại Nhật Bản”

không có tóm lược sửa đổi
{{Infobox ethnic group
|group=Người Việt tại Nhật Bản<br />在日ベトナム人
|population=36,.860 (2007)
|regions=[[Tokyo]], [[Osaka]]
|languages=[[tiếng Việt]], [[tiếng Nhật]]
|related-c=[[người Việt Nam]]
}}
'''Người Việt tại Nhật Bản''', (在日ベトナム人 Zainichi Betonamujin) theo số liệu của Bộ Tư pháp Nhật Bản, là cộng đồng người nước ngoài lớn thứ tám tại [[Nhật Bản]] vào năm 2004, đứng trên [[người Indonesia]] và sau [[người Thái]]. Phần lớn trong số 26,018 người Việt cư trú hợp pháp sống tại [[Kantō|vùng Kantō]] (13,.164 người, chiếm 50.,6% tổng số người Việt) và vùng [[Keihanshin]] (5,.289 người, chiếm 20% tổng số) bao gồm các phủ [[Kyoto]], [[Osaka]], [[Kobe]].<ref>{{citation|publisher=Ministry of Justice|location=Japan|chapter=平成19年末現在における外国人登録者統計について (About the statistics of registered foreigners at 2007 year-end)|month=June|year=2008|title=Press release|url=http://www.moj.go.jp/PRESS/080601-1.pdf|format=PDF}}</ref>
==Lịch sử di cư==
Vào đầu [[thế kỷ 20]], nhiều sinh viên Việt Nam đã chọn [[Nhật Bản]] là điểm đến theo lời kêu gọi của hoàng thân lưu vong [[Cường Để]] và [[Phong trào Đông Du]] mà ông và [[Phan Bội Châu]] đã khởi xướng. Đến năm 1908, hai trăm sinh viên Việt Nam đã đến học tại các trường đại học của Nhật.<ref name="Tran">{{citation|title=A Vietnamese Royal Exile in Japan: Prince Cuong De (1882-1951)|first=My-Van|last=Tran|year=2005|publisher=Routledge|pages=3–5, 41–47|isbn=0415297168}}</ref><ref name="Chandler">{{citation|title=In Search of Southeast Asia: A Modern History|first=David P.|last=Chandler|first2=David Joel|last2=Steinberg|pages=315–316|publisher=University of Hawaii Press|year=1987|isbn=0824811100}}</ref> Tuy nhiên, cộng đồng người Việt tại Nhật này đã bị lấn át bởi những [[người tị nạn]] [[chiến tranh Việt Nam]] và gia đình của họ, những người làm nên 70% tổng số [[Việt kiều]] ở Nhật.<ref name="Shingaki"/> Nhật Bản đã chấp nhận cho người Việt Nam tị nạn vào cuối những năm 1970.<ref name="Hosoya">{{citation|url=http://opac.kanto-gakuin.ac.jp/cgi-bin/retrieve/sr_bookview.cgi/U_CHARSET.utf-8/NI10000682/Body/link/11hosoya.pdf|title=A Case Study of Indochinese Refugees in Japan: Their experiences at school and occupations|last=Hosoya|first=Sari|pages=210–228|journal=Keizai Keiei Kenkyūsho Nenbō|volume=28}}</ref> Chính sách chấp nhận người tị nạn nước ngoài này đã đánh dấu một sự xóa bỏ quan trọng một định hướng hậu [[Thế chiến thứ hai]] nhằm thúc đẩy và bảo vệ tính thuần chủng của người Nhật. Phần lớn trong số những người di cư định cư tại phủ [[Kanagawa]] và [[Hyōgo]], những địa điểm tái định cư ban đầu. Khi họ đi khỏi những trung tâm tái định cư này, họ thường hướng về khu vực đông người Nhật gốc Hàn sinh sống (Zainichi Korean), tuy nhiên họ thấy có ít tình cảm cộng đồng với những người Nhật gốc Hàn, vì họ thấy người Nhật gốc Hàn dường như không giống một dân tộc thiểu số giống mình mà họ đã hội nhập sâu rộng vào người bản xứ.<ref name="Shingaki"/>
 
Những người lao động nước ngoài đến Nhật sau những người tị nạn theo cái gọi là "làn sóng thưthứ ba" của người nhập cư gốc Việt bắt đầu vào những năm 1990. Khi những công nhân [8xua61t khẩu lao động Việt Nam|xuất khẩu lao động]] theo hợp đồng trở về Việt Nam từ các quốc gia [[khối phía Đông]] trước đó, các nước sau đó đã chuyển tiếp từ [[chế độ Cộng sản]], họ đã bắt đầu tìm kiếm điểm đến khác, nơi họ có thể kiếm được mức thu nhập tốt và Nhật Bản thu hút họ bởi Nhật Bản gần gũi Việt Nam về mặt địa và có mức sống cao. Vào cuối năm 1994, số lượng công nhân Việt Nam hằng năm đến Nhật đã đạt đến con số 14,.305 người, phần lớn bằng [[thị thực]] thực tập sinh công nghiệp. Trái ngược với các nước xuất khẩu lao động ở khu vực [[Đông Nam Á]] khác, phần lớn người di cư là đàn ông, bởi những giới hạn của chính phủ Việt Nam đối với người đi nước ngoài làm việc trong các lĩnh vực vốn phụ nữ chiếm ưu thế như làm việc nhà và giải trí.<ref>{{citation|chapter=Labour Emigration and Emigration Pressures in Transitional Vietnam|last=Anh|first=Dang Nguyen|title=Migration in the Asia Pacific: Population, Settlement and Citizenship Issues|editor-first=Robyn R.|editor-last=Iredale|publisher=Edward Elgar Publishing|year=2003|pages=169–180|isbn=1840648600}}</ref>
==Hòa nhập==
Những người tị nạn đã gặp những khó khăn khác nhau khi hòa nhập vào xã hội Nhật, đặc biệt là về giáo dục và việc làm; tỉ lệ đi học trung học phổ thông chỉ khoảng 40% so với 96,6% của người Nhật sở tại, điều này được cho là do khả năng tiếng Nhật hạn chế của người tị nạn cũng như do các trường học không tự điều chỉnh để phù hợp với những khó khăn của học sinh có nguồn gốc văn hóa khác nhau.<ref name="Hosoya">{{citation|url=http://opac.kanto-gakuin.ac.jp/cgi-bin/retrieve/sr_bookview.cgi/U_CHARSET.utf-8/NI10000682/Body/link/11hosoya.pdf|title=A Case Study of Indochinese Refugees in Japan: Their experiences at school and occupations|last=Hosoya|first=Sari|pages=210–228|journal=Keizai Keiei Kenkyūsho Nenbō|volume=28}}</ref>. Tình trạng bất đồng cũng tồn tại giữa người nhập cư vào Nhật khi đã trưởng thành và những đứa trẻ thuộc thế hệ thứ 2 được sinh ra hoặc được giáo dục ở Nhật bởi rào cản ngôn ngữ và khác biệt trong văn hóa, nhóm thứ nhất cảm thấy nhóm kia quá dè dặt và cách biệt, trong khi nhóm thứ nhì chế giễu trình độ tiếng Nhật thấp của nhóm kia. Phần lớn người Việt không lấy tên [[tiếng Nhật]], hoặc thích dùng tên [[tiếng Việt]] hơn ngay cả khi họ có tên tiếng Nhật mặc dù họ thấy tên tiếng Nhật cần thiết khi xin việc và thi thoảng họ phàn nàn rằng họ bị trêu chọc khi có "tên [[katakana]]". [[Giáo hội Công giáo Rôma]] nhannhanh chóng đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng người Việt ở Nhật.<ref name="Shingaki"/>
 
==Những người nổi tiếng==
<references />
[[Thể loại:Việt kiều]]
[[Thể_loại:Di dân tại Nhật Bản]]
 
[[en:Vietnamese people in Japan]]
Người dùng vô danh