Khác biệt giữa các bản “Cải lương”

 
===Phát triển và Hưng thịnh===
Tại [[miền Nam Việt Nam]], [[thập niên 60]] là thập niên hưng thịnh nhất của cải lương miền Nam, lấn át cả [[tân nhạc Việt Nam|tân nhạc]]. Các sân khấu cải lương được đông khán giả đến xem hàng ngày, nên ngày nào cũng có diễn xuất, nhờ đó, các soạn giả và nghệ sĩ có cuộc sống khá sung túc, và một số ca sĩ tân nhạc phải tìm cách chuyển nghề sang hát cải lương để tìm kiếm thành công như [[Hùng Cường (nghệ sĩ)|Hùng Cường]] <ref name="rfa1">[http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/a-diva-former-cai-luong-performer-02132012131046.html?searchterm=None “Nhạn trắng Gò Công” từng là đào thương], RFA, 13/2/2012</ref>. Riêng tại vùng [[Sài Gòn]], [[Chợ Lớn]], [[Gia Định]] đã có trên 39 rạp hát cải lương <ref name="hoangkim">[http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/theart-of-cailuong-mlam-04162011135246.html Đâu rồi thời hoàng kim của Cải lương!], RFA, 16/4/2011</ref> và 20 nơi luyện cổ nhạc (gọi là "lò"), trong đó có những "lò" nổi tiếng như của Út Trong (từng là trưởng giàn cổ nhạc của gánh Thanh Minh suốt 13 năm, và là người đã huấn luyện [[Thanh Nga]] từ lúc còn thơ ấu), [[Văn Vĩ]], Duy Trì, Huỳnh Hà, Tư Tân, Yên Sơn, Ba Giáo v.v.<ref name="rfa1">[http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/a-diva-former-cai-luong-performer-02132012131046.html?searchterm=None “Nhạn trắng Gò Công” từng là đào thương], RFA, 13/2/2012</ref>. Trong những giải thưởng của ngành Cải lương thời đó, nổi tiếng và uy tín có giải Thanh Tâm, do ông ký giả Thanh Tâm (tên thật là Trần Tấn Quốc) thành lập, hoạt động từ năm 1958 đến năm 1968, mà người nhận giải đầu tiên là nữ nghệ sĩ Thanh Nga <ref>[http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/historic-tt-award-n-actress-tn-04192011152058.html Bài 1: Giải Thanh Tâm và nữ nghệ sĩ Thanh Nga], Ngành Mai, RFA, 19/4/2011</ref>. Những soạn giả tuồng nồi tiếng trong thời này có [[Năm Châu]], [[Hà Triều]], [[Hoa Phượng]], Bảy Cao, Thiếu Linh, Thu An, [[Viễn Châu]] ( sáng tạo hình thức [[tân cổ giao duyên]], tức là hát cải lương chung với tân nhạc) <ref>[http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/ha-trieu-hoa-phuong-nmai-05292011084040.html Soạn giả Hà Triều Hoa Phượng], RFA, 29/5/2011</ref><ref>[http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/vn-traditional-music-060411-06062011160207.html Nghệ sĩ Năm Châu: nguồn sáng tạo vô tận cho cải lương và điện ảnh Việt Nam], RFA, 6/6/2011</ref>. Những gánh hát cải lương nổi tiếng thời này có đoàn Thanh Minh, Thống Nhứt, Tiếng Chuông Vàng với những nghệ sĩ như [[Út Trà Ôn]], [[Hữu Phước]], [[Thành Được]], Hùng Cường, [[Tấn Tài]], [[Dũng Thanh Lâm]], [[Minh Cảnh]], [[Minh Vương]], [[Út Bạch Lan]], [[Ngọc Giàu]], Thanh Nga, [[Lệ Thủy]], [[Mỹ Châu]], [[Bạch Tuyết]], [[Phượng Liên]], Thanh Kim Huệ, Thanh Thanh Hoa, Dũng Thanh Lâm v.v.... <ref>[http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/TraditionalMusic_TQuang-20050910.html Những giọng ca vàng của sân khấu cải lương Sài Gòn trước đây], RFA, 10/09/2005</ref>
 
Sau khi [[chiến tranh Việt Nam]] chấm dứt, cải lương miền Nam còn hoạt động mạnh 10 năm nữa, đến năm 1985, mới dần dần sa sút <ref name="hoangkim">[http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/theart-of-cailuong-mlam-04162011135246.html Đâu rồi thời hoàng kim của Cải lương!], RFA, 16/4/2011</ref>, vì nhiều lý do, trong đó có thiếu kịch bản hay, thiếu rạp diễn mới và thế hệ lão thành tàn lụi.
Người dùng vô danh