Khác biệt giữa các bản “Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam”

 
== Về chính trị ==
Hàng năm đều có các cuộc gặp cấp cao. [[Thủ tướng Nhật Bản]] [[Danh sách các cuộc viếng thăm Việt Nam của thủ tướng Nhật Bản|thăm Việt Nam 5 lần]] ([[Murayama Tomiichi]] - 1994, [[Hashimoto Ryūtarō]] - 1997, [[Obuchi Keizō]] - 1998, [[Koizumi Junichirō]] - 2002, [[Abe Shinzō]] - 2006, 2012 và [[Suga Yoshihide]] - 2020.) Ngoại trưởng Nhật thăm chính thức 2 lần ([[1996]] và [[2004]]). [[Thủ tướng Việt Nam]] thăm Nhật Bản 6 lần ([[1993]], [[1999]], [[2001]], [[2003]] - 2 lần, - vàtháng 6/ năm 2004 và tháng 11 năm 2021). Từ 1993 đến nay, [[Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Tổng Bí thư]] (23 lần vào [[1995]], [[2002]] và [[20022015]]), [[Chủ tịch Quốc hội|Chủ tịch]] [[Quốc hội Việt Nam|Quốc hội]] và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng đã thăm Nhật Bản. Năm 2002, Lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất xây dựng quan hệ Việt Nam-Nhật Bản theo phương châm "đối tác tin cậy, ổn định, lâu dài". Trong chuyến thăm Việt Nam 7/[[2004]] của Ngoại trưởng Nhật Bản, hai bên đã ký Tuyên bố chung "Vươn tới tầm cao mới của đối tác bền vững".
 
Hai bên đã tạo dựng được cơ chế đối thoại ở nhiều cấp. Ngoài đối thoại chính trị định kỳ ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao (từ năm 1993), hai bên cũng đã xây dựng được cơ chế đối thoại kinh tế, an ninh và quốc phòng. Hai bên đã trao đổi tùy viên quân sự, mở Tổng lãnh sự quán ở [[Thành phố Hồ Chí Minh]] ở Việt Nam và [[Ōsaka|Osaka]] ở Nhật Bản