Khác biệt giữa các bản “Tư bản”

Không thay đổi kích thước ,  9 năm trước
Trong [[kinh tế học cổ điển]], tư bản/vốn là một trong bốn yếu tố sản xuất. Ba yếu tố còn lại là [[đất đai]], [[lao động]] và [[doanh nghiệp]]. Những hàng hóa có đặc điểm sau được coi là tư bản:
* Có thể sử dụng để tạo ra hàng hóa khác (đây chính là đặc điểm khiến hàng hóa đó trở thành tư bản)
* Có để tạo ra được, đối lập với đất đai là nguồn lực tồn tại tự nhiên với các đặc điểm như vị trí địa lí, khoáng sản bên dưới lòng đất.
* Không bị sử dụng hết ngay lập tức trong quá trình sản xuất như [[nguyên liệu]] hoặc [[bán sản phẩm]]. (Có một ngoại lệ ở đây là [[khấu hao]], giống như ''bán sản phẩm'', khấu hao được coi là chi phí doanh nghiệp).
 
Những đặc trưng này được [[kinh tế học tân cổ điển]] (neoclassical economics) kế thừa với một chút thay đổi cho phù hợp với thời đại. Đó là đưa thêm mục hàng hóa trong kho vào tư bản. Giá trị tư bản lưu kho có thể được xác định tại những thời điểm cụ thể, ví dụ ngày cuối năm 31 tháng 12. Ngược lại, đầu tư, vì lẽ sản phẩm tạo ra làm tăng giá trị của lưu kho (dạng tư bản), được mô tả như một dòng, luồng vốn thực hiện theo thời gian.
 
Những biểu hiện dễ thấy của tư bản là ở dạng vật chất, như công cụ, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển, v.v.. những thứ được sử dụng trong quá trình sản xuất. Ít ra là kể từ [[thập niên 1960]], các nhà kinh tế học dần tăng sự chú ý đến những dạng phi vật chất của tư bản. Ví dụ, đầu tư vào kỹ năng và giáo dục có thể được xem là bồi đắp nguồn vốn/tư bản con người hoặc vốn hiểu biết, và những đầu tư vào tài sản trí tuệ được concoi là xây dựng nguồn vốn trí tuệ. Những kháiKhái niệm mới mẻ này dẫn đến những khúc mắc và những tranh luận. Lý thuyết phát triển nguồn lực con người mô tả tư bản con người là thực thể bao gồm những yếu tố xã hội, nhân rộng và sáng tạo riêng biệt:
* ''Nguồn vốn xã hội'' là giá trị của hệ thống những mối quan hệ đáng tin cậy giữa những cá nhân trong một nền kinh tế.
* ''Nguồn vốn cá nhân'' là ưu điểm trong mỗi con người, được bảo vệ bởi xã hội và đem trao đổi để thu về sự tin cậy hoặc tiền bạc. Những khái niệm gần với nó là “tài năng”, “sự tháo vát”, “sự lãnh đạo”, “những kiến thức được đào tạo”, hoặc “những khả năng bẩm sinh”. Đây là nguồn vốn không dễ tạo ra được bằng cách kết hợp các dạng tư bản vật chất và phi vật chất kể trên. Trong kinh tế học cổ điển, nguồn vốn cá nhân đơn giản chỉ nằm trong khái niệm lao động.