Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Ngô Giới”

không có tóm lược sửa đổi
(clean up, general fixes, replaced: . < → .< using AWB)
Không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Liên kết định hướng
Phù Vũ An vương '''Ngô Giới''' ([[chữ Hán]]: 吴玠, 1093 – 1139) là tướng lãnh [[nhà Nam Tống]] trong [[lịch sử Trung Quốc]]. Ông cùng em trai Ngô Lân là danh tướng kháng [[nhà Kim|Kim]] bảo vệ đất Thục, giành được những thắng lợi vang dội ở các chiến dịch Hòa Thượng nguyên và Tiên Nhân quan. Ông là một trong 7 vị vương khác [[họ Triệu]] của nhà Nam Tống (中兴异姓七王, Trung hưng dị tính thất vương, còn lại theo thứ tự phong vương là Kỳ vương [[Hàn Thế Trung]], Tuần vương [[Trương Tuấn (nhà Tống, sinh 1086)|Trương Tuấn]], Hòa vương [[Dương Tồn Trung]], Tín vương [[Ngô Lân]], Phu vương [[Lưu Quang Thế]], Ngạc vương [[Nhạc Phi]]).
'''Ngô Giới''' (1093 - 1139) (chữ Hán 吴玠), tên chữ là Tấn Khanh, người Lũng Cán Đức Thuận quân (nay là Tĩnh Ninh Cam Túc). Cha là Ngô Ỷ, làm quân giáo, mẹ Lưu thị, sinh hai con trai là Ngô Giới, Ngô Lân. Sau này dời đến thành Thủy Lạc (nay là Trang Lãng Cam Túc). Ông là danh tướng kháng Kim những năm đầu [[Nam Tống]].
== Cuộc đời ==
Thuở nhỏ kiên nghị, có khí tiết, hiểu binh pháp giỏi kỵ xạ, đọc sách hiểu đại nghĩa. Lúc chưa làm quan, lấy gia thế thanh bạch tham gia Kính Nguyên quân. Những năm Tuyên Hòa thời [[Tống Huy Tông]] [[Bắc Tống]], tham dự bình định loạn [[Phương Lạp|Phương Tịch]] cùng đám giặc Hà Bắc, có công được giao quyền tướng thứ mười Kính Nguyên. Năm đầu Tĩnh Khang [[Tống Khâm Tông]], trong cuộc chiến với quân Tây Hạ, lấy hơn trăm kỵ truy kích, chém đầu 140 người, được đề bạt phó tướng thứ hai.<br>
Năm thứ hai Kiến Viêm thời [[Tống Cao Tông]], quân [[Kim]] tiến vào đất Thiểm, Đô thống chế Khúc Đoan thủ trấn Ma Vụ, sai Giới làm tiên phong, tiến chiếm khe Thanh Khê, lại đại phá quân Kim, truy kích 30 dặm, người Kim có ý sợ. Ông giữ quyền binh mã đô giám Kính Nguyên lộ, kiêm tri Hoài Đức quân. Người Kim tấn công phủ Diên An, Kinh lược sứ Vương Thứ triệu Khúc Đoan tiến quân, Đoan ở Bân Châu không đến, lại nói "Không bằng cướp sào huyệt, tấn công để cứu viện". Đoan liền tấn công Bồ Thành, sai Giới tấn công Hoa Châu, lại đoạt được. Về sau có giặc Sử Bân cướp Hán Trung không được, dẫn binh muốn đánh Trường An, Khúc Đoan sai giới đánh, giết được, chuyển làm thứ sử Trung Châu (giai quan, thứ sử quận Diêu, tòng ngũ phẩm).<br>
[[Trương Tuấn]] được lệnh kiểm soát Xuyên Thiểm, tham nghị quân sự Lưu Tử Vũ ca tụng anh em Giới tài dũng, Tuấn cùng Giới trò chuyện, cực kỳ vui mừng, đề bạt Ngô Giới làm thống chế, Lân chỉ huy thân binh.<br>
Năm thứ tư Kiến Viêm (1130), Giới thu phục Vĩnh Hưng quân (nay là Tây An Thiểm Tây), được phong Kinh lược sứ Vĩnh Hưng quân. Cùng năm đó, bị bại trong cuộc chiến Phú Bình, cùng em trai Ngô Lân lui giữ Hòa Thượng Nguyên (nay là tây nam Bửu Kê Thiểm Tây). Vì không hợp với Khúc Đoan, hợp mưu với Trương Tuấn khiến Đoan chết thảm.<br>
Năm đầu Thiệu Hưng (1131), tướng Kim Một Lập, Ô Lỗ, Sách Hợp đến tấn công nhưng thất bại. [[Hoàn Nhan Tông Bật]] lại mang trọng binh đến xâm lấn, Ngô Giới suất lĩnh quân mang cung cứng nỏ mạnh đại phá quân Kim, được phong Tiết độ sứ Trấn Tây quân. Năm thứ ba Thiệu Hưng (1133), tướng Kim Hoàn Nhan Cảo tấn công Nhiêu Phong quan (nay là tây Thạch Tuyền Thiểm Tây), xâm lấn phủ Hưng Nguyên (nay là Hán Trung Thiểm Tây). Ngô Giới lui giữ Tiên Nhân quan (nay là nam huyện Huy, Cam Túc), cản trở con đường quân Kim vào đất Thục. Năm thứ tư Thiệu Hưng, quân Kim tấn công Tiên Nhân quan, bị Ngô Giới đánh bại. Từ đó quân Kim không dám dòm ngó đất Thục. Ngô Giới lại được phong Tuyên phủ phó sứ Xuyên Thiểm, lại thêm Kiểm giáo thiếu sư, Tiết độ sứ hai trấn Phụng Ninh, Bảo Định quân.<br>
Lúc về già vì uống đan thạch, lại tửu sắc quá độ, năm thứ 9 Thiệu Hưng ho ra máu mà chết<ref>"Tống sử", quyển 366, "Ngô Giới truyện" cho rằng Giới "Về già có nhiều ham muốn, sai người hiến lợi lộc, sắc đẹp ở Thành Đô. Lại ham đan thạch, nên bệnh ho ra máu mà chết". "Tục Tư trị thông giám", quyển 122 "Giới lúc tuổi già ham sắc đẹp, chứa nhiều con gái, lại thích kim thạch, nên bị bệnh ho ra máu mà chết". "Kiến Viêm dĩ lai hệ niên yếu lục" quyển 129 cũng có ghi chép như vậy.</ref>. Sau khi chết, thụy là Vũ An, những năm Thuần Hy được phong Phù Vương.
 
==Thiếu Gianiên đìnhtòng quân==
Giới tự Tấn Khanh, người huyện Lũng Càn thuộc Đức Thuận quân {{ref|1}}. {{refn|group=Tống sử|'''Tống sử quyển 366, liệt truyện 125, Ngô Giới truyện''': Ngô Giới, tự Tấn Khanh, Đức Thuận quân Lũng Càn nhân.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Đỗ Đại Khuê (biên soạn), [[Danh thần bi truyện uyển diễm tập]] (bản [[Tứ khố toàn thư]]), Thượng, [[wikisource:zh:名臣碑傳琬琰集_(四庫全書本)/上卷12| quyển 12]], Minh Đinh Kiệt, Ngô Vũ An công công tích ký''': Ngô Giới tự Tấn Khanh, thế cư Đức Thuận chi Lũng Càn.}} Vì cha mất ở thành Thủy Lạc {{ref|2}}, nên cả nhà dời đến đấy. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Phụ táng Thủy Lạc thành, nhân tỉ yên.}}
Con lớn là Ngô Củng, từng nhậm chức Hữu vũ lang, binh mã đô giám Kính Nguyên lộ, hữu hộ quân hậu bộ quân quan, Phó Đô thừa chỉ Xu mật viện, Đô thống chế trú trát ngự tiền trung quân Lợi Châu tây lộ, Phó Đô tổng quản Giai Châu - Thành Châu - Tây Hòa Châu - Phượng Châu, kiêm tri châu Thành Châu, tri phủ Tương Dương, nhậm chức Đô thống chế trú trát ngự tiền gia quân Ngạc Châu, Chế trí sứ Hồ Bắc - Kinh Tây, Thừa tuyên sứ An Viễn quân, An phủ sứ Lợi Châu lộ, tri phủ phủ Hưng Nguyên, Đô chỉ huy sứ thị vệ mã quân.
 
<br>
Giới từ nhỏ tính trầm tĩnh, cương nghị, lại có chí hướng và tiết tháo; hiểu binh pháp và giỏi cưỡi ngựa bắn cung, đọc sách cũng nắm được đại thể. Chưa đến tuổi trưởng thành, Giới lấy thân phận con nhà lành để tòng quân ở Kính Nguyên lộ. Trong niên hiệu Chánh Hòa (1111 – 1118) thời Tống Huy Tông, người Tây Hạ xâm phạm, Giới lập công nên được bổ làm Tiến nghĩa phó úy, sớm cất nhắc làm Đội tướng. Giới tham gia trấn áp khởi nghĩa Phương Lạp (1120 – 1121), sau đó đánh dẹp các cuộc nổi dậy ở Hà Bắc, nhiều công nên được làm quyền Kính Nguyên đệ thập tướng. Năm Tĩnh Khang đầu tiên (1126), quân Tây Hạ tấn công Hoài Đức quân, Giới đem hơn trăm kỵ binh truy kích, chém được 140 thủ cấp, được cất nhắc làm Đệ nhị phó tướng. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Thiếu trầm nghị hữu chí tiết, tri binh thiện kị xạ, độc thư năng thông đại nghĩa. Vị quan, dĩ lương gia tử đãi Kính Nguyên quân. Chánh Hòa trung, Hạ nhân phạm biên, dĩ công bổ Tiến nghĩa phó úy, sảo trạc đội tướng. Tòng thảo Phương Lạp, phá chi; cập kích Hà Bắc quần đạo, luy công Quyền Kính Nguyên đệ thập tướng. Tĩnh Khang sơ, Hạ nhân công Hoài Đức quân, Giới dĩ bách dư kị truy kích, trảm thủ bách tứ thập cấp, trạc đệ nhị phó tướng.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Hầu thiếu trầm nghị, thượng khí tiết, trường vu kị xạ, hiểu binh pháp, độc thư năng thông đại nghĩa. Vị quan dĩ lương gia tử lệ Kính Nguyên quân. Chánh Hòa trung, Hạ nhân phạm biên, Giới ao chiến lập công, bổ Tiến nghĩa phó úy, quyền Đội tướng. Thảo Chiết Tây tặc Phương Lạp, phá kì chúng, cầm tù trưởng nhất nhân. Hựu phá Hà Bắc tặc, luy công chuyển Trung huấn lang, quyền Kính Nguyên đệ thập nhất chánh tướng. Hạ nhân công Hoài Đức quân, dĩ bách dư kị đột kích truy bắc, trảm thủ bách tứ thập hữu lục, chuyển Bỉnh nghĩa lang, trạc bổn lộ Đệ thập nhị phó tướng.}}
== Chú thích ==
 
{{tham khảo}}
==Bình định Thiểm Tây và thất bại Phú Bình==
Mùa xuân năm Kiến Viêm thứ 2 (1128), quân Kim vượt Hoàng Hà, đi ra Đại Khánh quan {{ref|3}}, cướp bóc Tần Ung, nhắm đến Kính Nguyên. Đô thống chế Khúc Đoan giữ trấn Ma Vụ, lệnh cho Giới làm tiền phong, tiến chiếm Thanh Khê lĩnh, đón đánh cho quân Kim đại bại, đuổi theo hơn 30 dặm. Người Kim bắt đầu có ý dè chừng, Giới được làm Quyền Kính Nguyên lộ Binh mã đô giám kiêm Tri Hoài Đức quân. Quân Kim tấn công phủ Duyên An, Kinh lược sứ Vương Thứ triệu Khúc Đoan tiến binh, Đoan đóng quân ở Bân Châu không đi, còn nói: “Chẳng bằng quét sạch sào huyệt của địch, đánh như thế ắt chúng phải quay về cứu.” Đoan bèn đánh Bồ Thành, lệnh cho Giới tấn công Hóa Châu {{ref|4}}; ông chiếm được. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Kiến Viêm nhị niên xuân, Kim nhân độ Hà, xuất Đại Khánh quan, lược Tần Ung, mưu xu Kính Nguyên. Đô thống chế Khúc Đoan thủ Ma Vụ trấn, mệnh Giới vi tiền phong, tiến cư Thanh Khê lĩnh, nghịch kích đại phá chi, truy bôn tam thập lí, Kim nhân thủy hữu đạn ý. Quyền Kính Nguyên lộ Binh mã đô giám kiêm Tri Hoài Đức quân. Kim nhân công Duyên An phủ, Kinh lược sứ Vương Thứ triệu Khúc Đoan tiến binh, Đoan trú Bân Châu bất phó, thả viết: “Bất như đãng kì sào huyệt, công kì tất cứu.” Đoan toại công Bồ Thành, mệnh Giới công Hoa Châu, bạt chi.}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 101, Tống kỷ 101, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Kiến Viêm nhị niên (Kim Thiên Hội lục niên)''': Hạ, tứ nguyệt... Tiên thị Đoan trì binh Kính Nguyên, chiêu lưu dân hội tốt, sở quá nhân cung lương kiết, đạo bất thập di. Chí thị Đoan đồn quân Ma Vụ trấn, văn Nghiêm tử, Kim du kị công Kính Nguyên, khiển Đệ thập tam phó tướng, Bỉnh nghĩa lang Ngô Giới cư Thanh Khê lĩnh nghịch cự chi. Tương chiến, kì nha binh tam bách dư nhân giai hội, Giới soái dư binh phấn kích, đại phá chi, Kim binh nãi khứ. Đoan, Trấn Nhung nhân; Giới, Lũng Cán nhân dã... Thập nhất nguyệt,... Thì Đoan tận thống Kính Nguyên tinh binh, trú Bân Châu chi Thuần Hóa, Thứ nhật di văn thú kì tiến, thả khiển sử thập sổ bối vãng thuyết dụ Đoan, Đoan bất thính. Thứ tri sự cấp, hựu khiển thuộc quan Ngư Đào đốc sư, Đoan dương hứa chi, nhi thật vô hành ý. Quyền chuyển vận phán quan Trương Bân vi Đoan tùy quân ứng phó, vấn dĩ sư kì, Đoan tiếu vị Bân viết: “Công thị Đoan sở bộ, thục dữ Lý Cương cứu Thái Nguyên hồ?” Bân viết: “Bất cập dã.” Đoan viết: “Cương triệu thiên hạ binh, bất độ nhi vãng, dĩ thủ bại bắc. Kim Đoan binh bất mãn vạn, vạn nhất nhược bại, địch kị trường khu, vô Thiểm Tây hĩ. Đoan kế toàn Thiểm Tây dữ Phu Duyên nhất lộ Thục trọng khinh, thị dĩ vị cảm tức hành; bất như trực đảo sào huyệt, công kì tất cứu.” Nãi khiển Kính Nguyên binh mã đô giám Ngô Giới công Hoa Châu, Đoan tự công Bồ Thành huyện. Hoa Châu, Bồ Thành giai vô thủ binh, Giới bạt Hoa Châu. Đoan bất công Bồ Thành, dẫn binh xu diệu chi Đồng Quan, phục vu lộ do Bân Châu chi Tam Thủy, dữ Giới hội vu Ninh chi Tương Nhạc.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Kiến Viêm tam niên, Kim nhân nội xâm, dĩ tam tái hĩ xuân độ hà, xuất Đại Khánh quan. Lạc Tác tàn Trường An cổ hành nhi tây khóa Phượng Tường, khiên lũng bất tiếp, tuần hàng Tần Châu, thùy đầu Hi Hà, Lũng Hữu đại chấn. Hi soái Trương Thâm khiển thiên tướng quân Lưu Duy Phụ tổng duệ binh tam thiên ngự địch. Kim nhân tiền quân du Củng Châu, Duy Phụ lưu quân Thục Dương thành, dĩ tinh kị thiên bát bách nhân dạ du Tân Điếm. Địch thị thắng bất ngu, lê minh quân đọa phục trung, Duy Phụ vũ sáo thứ kì suất Hắc Phong đại vương Đỗng Hung đồ mã túc hạ. La Tác thất thế độn tẩu, Thâm canh khiển Lũng Hữu đô hộ Trương Nghiêm dĩ binh kế tiến, Nghiêm xu Phượng Tường, chiến Ngũ Mã pha, Hạ binh bại tử chi. Duy Phụ tự Phượng Tường Thạch Tị trại độn quy Hi Châu. Kinh chế tư thống lĩnh Lưu Ngạn Hi khí Phượng Tường quy Khúc Đoan, Đoan trảm dĩ tuẫn. Đoan dữ hầu đại binh đồn Bắc Nguyên kiên bích bất động. Kim nhân mưu xu Kính Châu, Đoan cự thủ Ma Vụ trấn, khiển hầu dĩ tiền quân ngự địch. Hầu tiến cư Thanh Khê lĩnh, nghịch kích đại phá chi, chuyển Vũ nghĩa lang, Kính Nguyên lộ binh mã đô giám, Tri Hoài Đức quân. Đông dĩ bổn đạo binh phục Hoa Châu thành, phá mệnh tướng sĩ vô sát lược, dân giai an đổ, chuyển Vũ công đại phu, Trung Châu thứ sử.}}
 
Mùa đông năm ấy, nghĩa quân Sử Bân tấn công Hán Trung không được, dẫn binh muốn lấy Trường An, Khúc Đoan lệnh cho Giới đánh dẹp; ông đánh bại và chém chết Sử Bân, được thăng làm Trung Châu thứ sử. Tuyên phủ xử trí sứ Trương Tuấn tuần Quan Thiểm, Tham nghị quân sự Lưu Tử Vũ khen anh em Giới tài dũng, Tuấn cùng Giới nói chuyện, rất hài lòng, lập tức thụ ông làm Thống chế, em trai là Ngô Lân nắm thân binh trước trướng. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Nhị niên đông, kịch tặc Sử Bân khấu Hán Trung, bất khắc, dẫn binh dục thủ Trường An, Khúc Đoan mệnh Giới kích trảm chi, thiên Trung Châu thứ sử. Tuyên phủ xử trí sứ Trương Tuấn tuần Quan Thiểm, Tham nghị quân sự Lưu Tử Vũ tụng Giới huynh đệ tài dũng, Tuấn dữ Giới ngữ, đại duyệt, tức thụ Thống chế, đệ Lân chưởng trướng tiền thân binh.}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 101, Tống kỷ 101, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Kiến Viêm nhị niên (Kim Thiên Hội lục niên)''': Thập nhất nguyệt,... Kính Nguyên binh mã đô giám kiêm Tri Hoài Đức quân Ngô Giới tập bạn tặc Sử Bân, trảm chi.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Kịch tặc Sử Bân khấu Hưng Phượng, cư Trường An mưu bất quỹ, hầu tiến binh dạ tập kì thành, xuất chiến trảm kì thủ, chuyển Hữu vũ đại phu.}}
 
Mùa xuân năm thứ 4 (1130), Giới được thăng làm Kính Nguyên lộ Mã bộ quân phó tổng quản. Tướng Kim là Lâu Thất cùng Tát Li Hát thẳng tiến vào Kiếm Môn quan, Đoan sai Giới kháng cự ở Bành Nguyên điếm, còn mình đóng quân ở Bân Châu làm viện binh. Giới đánh bại quân Kim, khiến Tát Li Hát bật khóc, lính Kim gọi ông ta là “anh chàng khóc nhè”. Quân Kim chỉnh đốn rồi quay lại tái chiến, Giới thua chạy. Đoan lui về Kính Nguyên, hặc Giới trái lệnh, khiến ông chịu giáng làm Vũ hiển đại phu, bãi chức tổng quản, phục chức Tri Hoài Đức quân. Trương Tuấn tiếc tài, ít lâu sau lấy Giới làm Tần Phượng phó tổng quản kiêm Tri Phượng Tường phủ. Bấy giờ chiến tranh tạm ngừng, Giới vất vả vỗ về nhân dân, khôi phục sanh hoạt trở lại. Sau đó Giới được chuyển làm Trung Châu phòng ngự sứ. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Tứ niên xuân, thăng Kính Nguyên lộ Mã bộ quân phó tổng quản. Kim soái Lâu Túc dữ Tát Li Hát trường khu nhập quan, Đoan khiển Giới cự vu Bành Nguyên điếm, nhi ủng binh Bân Châu vi viện. Kim binh lai công, Giới kích bại chi, Tát Li Hát cụ nhi khấp, Kim quân trung mục vi “đề khốc lang quân”. Kim nhân chỉnh quân phục chiến, Giới quân bại tích. Đoan thối đồn Kính Nguyên, hặc Giới vi tiết độ, hàng Vũ hiển đại phu, bãi tổng quản, phục Tri Hoài Đức quân. Trương Tuấn tích Giới tài, tầm dĩ vi Tần Phượng phó tổng quản kiêm Tri Phượng Tường phủ. Thì binh hỏa chi dư, Giới lao lai an tập, dân lại dĩ sanh. Chuyển Trung Châu phòng ngự sứ.}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 107, Tống kỷ 107, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Kiến Viêm tứ niên (Kim Thiên Hội bát niên)''': Tam nguyệt,... Giáp thần, sơ, Lạc Tác kí phá Thiểm, toại dữ kì bức Hoàn Nhan Cảo trường khu nhập quan. Tuyên phủ xử trí sứ tư đô thống chế Khúc Đoan, văn địch chí, khiển Hữu vũ đại phu, Trung Châu thứ sử, Kính Nguyên lộ mã bộ quân phó tổng quản Ngô Giới cập thống chế quan Trương Trung Phu, Lý Ngạn Kỳ tương sở bộ cự chi vu Bành Nguyên điếm, Đoan tự ủng đại binh đồn vu Bân Châu chi Nghi Lộc dĩ vi thanh viện. Địch thừa cao nhi trần, Lạc Tác dẫn binh lai chiến, Giới kích bại chi. Kí nhi Kim sư phục chấn, Tống quân bại, Đoan thối đồn Kính Châu, Kim nhân diệc dẫn khứ. Đoan hặc Giới vi tiết, hàng Vũ hiển đại phu, bãi tổng quản, phục Tri Hoài Đức quân. Tuyên phủ xử trí sứ Trương Tuấn tố kì Giới, tầm trạc Giới Tần Phượng phó tổng quản kiêm Tri Phượng Tường phủ. Thì đương binh hỏa chi dư, Giới lao lai an tập, dân lại dĩ sanh.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Tứ niên xuân, trạc Hi Hà lộ Mã bộ quân phó tổng quản. Kim nhân mưu thủ Hoàn Khánh, đại tướng La Tác dĩ chúng sổ vạn công Ma Đình. Hầu nghịch chiến vu Bành điếm, sĩ thù tử đấu, sát thương quá đương, nhi Khúc Đoan hặc hầu vi tiết chế, hàng Vũ hiển đại phu. Luận giả bất trực, vị ki phục cố quan, cải Tần Phượng lộ mã bộ quân phó tổng quản, Tri Phượng Tường kiêm Quyền Tri Vĩnh Hưng quân lộ kinh lược an phủ sứ tư công sự, tiến phục Trường An, chuyển Hữu vũ đại phu, Trung Châu phòng ngự sứ. Tiên thị hầu dữ Khúc Đoan khởi binh Kính Nguyên, chiêu lưu dân hội tốt hãn ngự Kim binh, sở quá nhân cung lương kiết, đạo bất thập di, mãnh sĩ như lâm, giáp binh tế dã. Mỗi chiến tất tiên chiêm cao nguyên, tất thắng chi địa, vị thường bại nục. Địch sảo bắc thối thủ Hà Đông bất cảm du hà ẩm mã.}}
 
Trương Tuấn gọi Khúc Đoan và Giới đến bàn việc đánh Kim, Đoan đề nghị chờ thêm vài năm, Giới đề nghị cố thủ nơi hiểm yếu; mạc liêu của Tuấn cho rằng một người trì hoãn, một người sợ giặc, đều không thể nghe theo. Tháng 9 ÂL, Tuấn hợp 5 lộ binh, muốn quyết chiến với quân Kim, Giới lần nữa đề nghị cố thủ, nhưng chư tướng cho rằng “ta nhiều địch ít, đôi bên ngăn cách bởi con chằm cỏ lau, khiến kỵ binh Kim không thể thi thố”, nên đều không nghe. Quân Kim kéo đến, chở đất lấp con chằm, tấn công doanh trại của Tống. Quân Tống tan vỡ, 5 lộ binh đều thất bại, Ba Thục chấn động. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Cửu nguyệt, Tuấn hợp ngũ lộ binh, dục dữ Kim nhân quyết chiến, Giới ngôn nghi các thủ yếu hại, tu kì tệ nhi thừa chi. Cập thứ Phú Bình, đô thống chế hựu hội chư tướng nghị chiến, Giới viết: “Binh dĩ lợi động, Kim địa thế bất lợi, vị kiến kì khả. Nghi trạch cao phụ cư chi, sử bất khả thắng.” Chư tướng giai viết: “Ngã chúng bỉ quả, hựu tiền trở vi trạch, địch hữu kị bất đắc thi, hà dụng tha tỉ?” Dĩ nhi địch sậu chí, dư sài nang thổ, tạ náo bình hành, tiến bạc Giới doanh. Quân toại đại hội, ngũ lộ giai hãm, Ba Thục đại chấn.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Thì triều đình khiển Xu mật Trương Hòa công đổng soái Xuyên Thiểm, hứa dĩ tiện nghi, bất tòng trung phúc. Xu mật di hịch chư lộ tướng thần dữ địch đại chiến, triệu Đoan dữ hầu vấn trù sách. Đoan vân “Bình Nguyên dịch dã, địch tiện vu xung đột nhi ngã quân vị giai tập, chiến tu giáo sĩ thập niên, nhiên hậu khả dĩ đại cử.” Hầu vân “Cao sơn tuấn cốc, ngã sư tiện vu Trú đội, địch tuy kiêu quả, giáp mã hậu trọng, chung bất năng trì đột ngã cư tha nga chi hiểm, chiêm quan phụ chi thế, bỉ tuy cường hãn bất năng cư ngã xích thốn địa.” Tuyên mạc liêu tá nhất dĩ vi vu hoãn, nhất dĩ vi khiếp nọa, trí kì ngôn nhi bất dụng, khí kì nhân nhi phất thân. Thu cửu nguyệt, sư thứ Phú Bình, đô thống chế hội chư tướng nghị chiến, hầu hựu viết “Binh dĩ lợi động, kim địa thế bất lợi, tương hà dĩ chiến, nghi tỉ cư cao phụ, chế địch mã xung đột.” Chư tướng giai vị bất nhiên, vân “ngã sư sổ bội, hựu tiền lâm vi trạch, phi thiết kị sở”, nghi đô bất thính. Kí nhi địch sậu chí, nang thổ du trạch dĩ bạc ngô doanh. Vương sư đại hội, ngũ lộ tất hãm, Ba Thục đại chấn.}}
 
==Bảo vệ đất Thục và chiến thắng Hòa Thượng nguyên==
Giới thu tàn binh về Hòa Thượng nguyên ở phía đông Tản Quan, chứa thóc luyện binh, dựng rào tính kế tử thủ. Có kẻ đề nghị Giới nên lui về giữ Hán Trung, chẹn cửa ngõ vào Thục để yên lòng người. Giới nói: “Ta giữ nơi này, địch quyết không dám bỏ qua ta mà đi, cứ giữ chắc lũy mà dòm xuống, khiến họ sợ tôi đánh úp sau lưng. Đây là vì bảo vệ đất Thục đấy.” Giới ở Hòa Thượng nguyên, dân chúng Phượng Tường cảm ơn huệ của ông, bảo nhau lén chở rơm thóc để giúp đỡ; Giới luôn dùng bạc, lụa để đổi lấy, dân chúng càng vui lòng, lẻn đến nhiều hơn. Người Kim giận, mai phục ở ven sông Vị đế đón giết họ, còn thi hành phép Bảo ngũ liên tọa để cấm đoán, nhưng mọi người vẫn phạm cấm như cũ, vài năm sau mới thôi. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Giới thu tán tốt bảo Tản Quan đông Hòa Thượng nguyên, tích túc thiện binh, liệt sách vi tử thủ kế. Hoặc vị Giới nghi thối thủ Hán Trung, ách Thục khẩu dĩ an nhân tâm. Giới viết: “Ngã bảo thử, địch quyết bất cảm việt ngã nhi tiến, kiên bích lâm chi, bỉ cụ ngô niếp kì hậu, thị sở dĩ bảo Thục dã.” Giới tại nguyên thượng, Phượng Tường dân cảm kì di huệ, tương dữ dạ thâu sô túc trợ chi. Giới thường dĩ ngân bạch, dân ích hỉ, thâu giả ích đa. Kim nhân nộ, phục binh Vị hà yêu sát chi, thả lệnh bảo ngũ liên tọa; dân mạo cấm như cố, sổ niên nhiên hậu chỉ.}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 108, Tống kỷ 108, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Kiến Viêm tứ niên (Kim Thiên Hội bát niên)''': Thập nhất nguyệt,... Mã bộ quân phó tổng quản Ngô Giới tự Phượng Tường tẩu bảo Đại Tản quan chi đông Hòa Thượng nguyên ... Hoặc vị Ngô Giới: “Nghi di đồn Hán Trung dĩ bảo Ba Thục.” Giới viết: “Địch bất phá ngã, cự cảm khinh tiến! Ngô kiên bích trọng binh, hạ khám Ung điện, địch cụ ngô thừa hư tập kì hậu, thử bảo Thục lương sách dã.” Chư tướng nãi phục, thì Giới tại nguyên, quân thực bất kế, Phượng Tường chi dân cảm kì di huệ, tương dữ dạ phụ sô túc thâu chi; Giới diệc liên kì viễn ý, tất hậu thưởng dĩ ngân bạch, dân nhân ích hỉ. Địch nộ, khiển binh phục Vị nam, yêu nhi sát chi, hựu lệnh bảo ngũ tương tọa, phạm giả giai tử, nhi dân ích mạo cấm thâu chi, sổ niên nhiên hậu chỉ.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Hầu độc chỉnh chúng bảo Tản Quan chi đông viết Hòa Thượng nguyên, tích túc thiện binh, liệt sách kì thượng. Hoặc vị hầu nghi tiến đồn Hán Trung dĩ thủ Ba Thục, hầu viết “địch bất phá ngã, cự cảm khinh tiến, ngô kiên bích trọng binh hạ khám Ung điện, bỉ cụ ngô tập kì hư, niếp kì hậu, bảo Thục lương sách dã”.}}
 
Năm Thiệu Hưng đầu tiên (1131), quân Kim chia 2 đường tấn công Hòa Thượng nguyên. Ô Lỗ, Chiết Hợp từ Giai Châu {{ref|5}}, Thành Châu {{ref|6}} ra Đại Tản quan, bày trận ở Bắc Sơn; Giới lệnh cho chư tướng giữ vững trận thế để đợi, thay phiên đánh – nghỉ. Đường vào hang núi hẹp lại nhiều đá, ngựa không thể đi, quân Kim bỏ ngựa để giao chiến, nhưng đại bại; Ô Lỗ, Chiết Hợp dời trại về Hoàng Ngưu, gặp mưa lớn gió to, bèn lui chạy. Cánh quân còn lại của Một Lập tấn công Tiễn Quát quan, Giới lệnh cho bộ tướng đánh lui được, khiến 2 cánh quân Kim không thể hội họp. Ban đầu, quân Tống thua trận Phú Bình, anh em Giới đem vài ngàn tàn binh đóng trên Hòa Thượng nguyên, lòng người chưa vững. Có kẻ mưu đồ bắt anh em Giới nộp cho người Kim, Giới biết được, triệu chư tướng uống máu ăn thề, khích lệ trung nghĩa; tướng sĩ đều cảm động rơi nước mắt, nguyện nghe theo ông. Trương Tuấn xét công, thừa chế bái Giới làm Minh Châu quan sát sứ. Gặp tang mẹ, Giới được triều đình cho khởi phục, kiêm Thiểm Tây chư lộ đô thống chế. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Thiệu Hưng nguyên niên, Kim tướng Một Lập tự Phượng Tường, biệt tướng Ô Lỗ, Chiết Hợp tự Giai, Thành xuất Tản quan, ước nhật hội Hòa Thượng nguyên. Ô Lỗ, Chiết Hợp tiên kì chí, trận Bắc Sơn tác chiến, Giới mệnh chư tướng kiên trận đãi chi, canh chiến điệt hưu. Sơn cốc lộ hiệp đa thạch, mã bất năng hành, Kim nhân xá mã bộ chiến, đại bại, di trại Hoàng Ngưu, hội đại phong vũ bạc, toại độn khứ. Một Lập phương công Tiễn Quát quan, Giới phục khiển tướng kích thối chi, lưỡng quân chung bất đắc hợp. Thủy, Kim nhân chi nhập dã, Giới dữ Lân dĩ tán tốt sổ thiên trú nguyên thượng, triêu vấn cách tuyệt, nhân vô cố chí. Hữu mưu kiếp Giới huynh đệ bắc khứ giả, Giới tri chi, triệu chư tướng sáp huyết minh, miễn dĩ trung nghĩa. Tướng sĩ giai cảm khấp, nguyện vi dụng. Trương Tuấn lục kì công, thừa chế bái Minh Châu quan sát sứ. Cư mẫu tang, khởi phục, kiêm Thiểm Tây chư lộ đô thống chế. }} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 109, Tống kỷ 109, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng nguyên niên (Kim Thiên Hội cửu niên)''': Ngũ nguyệt,... Trung Châu phòng ngự sứ, Tần Phượng kinh lược sứ Ngô Giới cập Kim nhân Ô Lỗ, Chiết Hợp chiến vu Hòa Thượng nguyên chi bắc, bại chi.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Việt minh niên cải nguyên Thiệu Hưng. Xuân tam nguyệt Kim quốc hoàng điệt Ma Lý Lang Quân soái duệ binh phạm nguyên thượng. Kì tất thủ nhi hậu tiến, hầu kích bại chi, chân bái Trung Châu phòng ngự sứ. Hạ ngũ nguyệt Ma Lý cập Hô Nữu Lang Quân, Mã Ngũ thái sư, Cảnh thái sư phục hội liệt tướng Ô Lỗ bối lặc, sử nhị tướng do Giai Thành xuất Đại Tản Quan tiên chí. Hầu dữ chiến tam nhật liên thắng. Nhi Một Lập phương công Tiễn Quát quan, hầu khiển huy hạ kích thối, bất sử dữ nhị tướng hợp. Phân binh yểm tập, lưỡng giai hội khứ, chuyển Minh Châu quan sát sứ. Cáo từ vân: “Trẫm dĩ kinh lí nhị Thiểm phó chi xu thần, phụng tương thiên uy thức át loạn, lược phi hữu hùng bi chi sĩ, bất nhị tâm chi thần, tương dữ lục lực tận trung, nội phủ ngoại ngữ tắc kham định chi kì. Vị khả tuế nguyệt kí phu công lai tấu mậu thưởng thị nghi. Trung Châu phòng ngự sứ, Tần Phượng lộ kinh lược an phủ sứ, Mã bộ quân đô tổng quản Ngô Giới tài khí bất quần trung dũng. Tự phấn sách, túc công danh chi hội đằng thanh Quan Lũng chi gian, bỉ giả trạc soái Kính Nguyên tận hộ, chư tướng kì hạ chi chiến, vưu vi tuyển công hoạch kì tù, hiệu xú loại Chiết bắc thị dụng thù, kì đa tiệp trắc, dĩ liêm quân phu, hùng chức mĩ quan. Trẫm sở dĩ đãi công năng chi sĩ, dã ích phấn nhĩ, liệt trẫm vô ái yên khả đặc thụ tiền kiện quan.” Vị ki, đinh mẫu Lưu thị gia Quốc phu nhân, ưu khởi phục tầm kiêm Thiểm Tây chư lộ đô thống chế. Cáo từ vân “Hiếu di vu trung giả thánh nhân chi cách ngôn: quốc nhĩ vong gia giả. nhân thần chi di hiến, nhi huống phân khổn ngoại chi kí, thống chư lộ chi sư, thối lệ dĩ tu chẩm qua đãi đán. Kì khả dĩ thân tang phế hồ, quan sát sứ Ngô Giới bỉ dĩ công phạt tẩm giai hiển vinh, khước địch hữu trầm quả chi ki, ngự quân thích uy ái chi tể, chiến đa do suất mậu thưởng, kí hành cự thâm phong mộc chi bi, phương trì kim cách chi sự, thẩn lâm địch kị vu dịch tương, nhi quân chế dong vu cựu tình, kì an quyết thường vô khoáng nhĩ chức. Giới năng dương danh vu thế, dĩ hiển phụ mẫu tắc trung hiếu chi đạo, lưỡng đắc hĩ nhĩ. Kì miễn tai khả đặc thụ Thiểm Tây chư lộ đô thống chế.”}}
 
Người Kim từ khi quật khởi, đã quen chiến thắng, đến nay liên tiếp bị Giới đánh bại, rất căm giận, mưu tính giết bằng được ông. Tướng Kim ở Thục là Lâu Thất mất, Ngột Truật được thay ông thế ông ta, tập hợp hơn 10 vạn binh, bắc cầu nổi vượt sông Vị, từ Bảo Kê kết trại liên hoàn, đắp lũy đá làm thành, men theo mép nước giao chiến với quân Tống. Tháng 10 ÂL, quân Kim tấn công Hòa Thượng nguyên. Giới lệnh cho chư tướng chọn cung cứng nỏ mạnh, luân phiên bắn ra, đặt hiệu là “Trú đội thỉ” (thỉ nghĩa là cái tên), liên tiếp không dứt, nhiều như mưa trút. Quân Kim lui lại, Giới lấy kỳ binh đánh lén, cắt đường vận lương. Nhắm quân Kim gặp khó phải lui, Giới đặt mai phục ở ngòi Thần Bộn để đợi. Quân Kim đến, quân Tống xông ra, quân Kim đại loạn. Quân Tống truy kích trong đêm, đánh cho quân Kim đại bại. Ngột Truật trúng tên lạc, một mình chạy thoát. Trương Tuấn thừa chế lấy Giới làm Trấn Tây quân tiết độ sứ, Lân làm Kính Nguyên lộ Mã bộ quân phó tổng quản. Ngột Truật thất bại, từ Hà Đông quay về Yến Sơn, lại lấy Tát Li Hát làm Thiểm Tây kinh lược sứ, đồn trú Phượng Tường, cùng Giới giằng co. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Kim nhân tự khởi hải giác, nữu thường thắng, cập dữ Giới chiến triếp bắc, phẫn thậm, mưu tất thủ Giới. Lâu Túc tử, Ngột Truật hội chư đạo binh thập dư vạn, tạo phù lương khóa Vị, tự Bảo Kê kết liên châu doanh, lũy thạch vi thành, giáp giản dữ quan quân cự. Thập nguyệt, công Hòa Thượng nguyên. Giới mệnh chư tướng tuyển kính cung cường nỗ, phân phiên điệt xạ, hào “trú đội thỉ”, liên phát bất tuyệt, phồn như vũ chú. Địch sảo khước, tắc dĩ kì binh bàng kích, tuyệt kì lương đạo. Độ kì khốn thả tẩu, thiết phục vu thần bộn dĩ đãi. Kim binh chí, phục phát, chúng đại loạn. túng binh dạ kích, đại bại chi. Ngột Truật trung lưu thỉ, cận dĩ thân miễn. Trương Tuấn thừa chế dĩ Giới vi Trấn Tây quân tiết độ sứ, Lân vi Kính Nguyên lộ Mã bộ quân phó tổng quản. Ngột Truật kí bại, toại tự Hà Đông quy Yến Sơn; phục dĩ Tát Li Hát vi Thiểm Tây kinh lược sứ, đồn Phượng Tường, dữ Giới tương trì.}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 110, Tống kỷ 110, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng nguyên niên (Kim Thiên Hội cửu niên)''': Thập nguyệt,... Ất hợi, khởi phục Minh Châu quan sát sứ, Thiểm Tây chư lộ đô thống chế, Tần Phượng lộ kinh lược sứ Ngô Giới, cập Kim nhân chiến vu Hòa Thượng nguyên, đại bại chi.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Kim binh tự phá Khiết Đan dĩ lai nữu vu thường thắng, chí thị dữ hầu chiến triếp bắc bất thắng, kì phẫn. Đông thập nguyệt, kì nguyên soái tứ thái tử hội chư đạo binh cập chánh giáp Nữ Chân sổ vạn nhân tạo phù lương khóa Vị thủy, tự Bảo Kê liên tam thập lí, điệp thạch vi thành dữ hầu cự chiến. Hầu chỉ thụ chư tướng tuyển kính cung cường nỗ, kì dĩ tất tử, phiên hưu điệt xạ. Địch sảo khước, tắc dĩ Giới binh thừa hiểm cư ải, hoành công giáp kích. Như thị tam nhật, độ kì tất khốn thả tẩu, hầu khiển huy hạ phục Thần Bộn dục, đãi kì quy. Địch quả độn tẩu, phục phát. Địch hội, phu kì đô tướng Dương A Khắc bối lặc cập tù lĩnh tam bách dư nhân, giáp sĩ bát bách lục thập nhân, thi điền khanh cốc giả nhị thập dư lí, hoạch khải giáp sổ vạn kế. Thừa dạ tinh binh kiếp địch đại trại, tứ thái tử toàn quân hãm một, tiễu sát đãi tận ki hoạch tứ thái tử. Bái Trấn Tây quân tiết độ sứ, ngự tiền sai trung sứ nhâm sung tê chiếu, tựu tứ vân “Binh thế vô tiền dụng kiêm tất thắng chi tướng, vương linh khắc bố duẫn, ê địch hi chi uy. Quyến ngã hổ thần, thì hiến nhung tiệp, thụ tận li chư tướng chi nhâm, đương kiêm tổng lưỡng soái chi hùng, khống lâm yếu xung át chế xâm dật vĩnh niệm, Ung Châu chi vực cửu li tiến thực chi tai, chúc địch thế chi phương, trương lệ binh phong nhi ích bội ẩm, thiết kỳ phục cung soái khải hành. Phu đương hộ chi chúng, tù điễn dẫn cung chi quần xú uy thanh, hà sướng khải tấu thượng văn ban lao liễn huân, cảm hậu trù dong chi điển, kiến nha ủng tiết, ích long chế khổn chi quyền, tứ diễn hộ tô, nhưng gia chân thực tịnh ban huy sổ thức, kì quyến phụ vu hí địch, quả nghị vu nhung chiêu, hạp thân uy vu vũ bị, thừa chiến thắng chi dũng khí, dụng khôi phục vu cố cương, trữ tốt trảo nha chi công, hành tứ sơn hà chi thệ, miễn cung nãi sự đồ báo dị ân. Khả đặc thụ Trấn Tây quân tiết độ sứ, Thiểm Tây chư lộ đô thống chế, Vũ Công huyện khai quốc tử, thực ấp ngũ bách hộ, thực thật phong nhị bách hộ.”}}
 
==Tiếp tục vệ Thục và chiến thắng Tiên Nhân quan==
Năm thứ 2 (1132), Giới được kiêm Tuyên phủ xứ trí sứ tư Đô thống chế, tiết chế Hưng {{ref|7}}, Văn {{ref|8}}, Long {{ref|9}} 3 châu. Người Kim dòm ngó đất Thục lâu ngày, nhưng bị Giới đóng quân ở Hòa Thượng nguyên chẹn giữ, không thể đánh bại ông, bèn tìm cách vòng qua. Khi ấy Giới ở Hà Trì {{ref|10}}, Tát Li Hát sai phản tướng Tống là Lý Ngạn Kỳ đóng quân ở Tần Châu, dòm ngó Tiên Nhân quan nhằm ngăn trở Giới, còn lệnh cho kị binh ra Hi Hà lộ nhằm ngăn trở Quan Sư Cổ, đích thân ông ta từ Thương Châu {{ref|11}}, Vu Châu {{ref|12}} đâm thẳng Thượng Tân {{ref|13}}. Tháng giêng ÂL năm thứ 3 (1133), Tát Li Hát chiếm Kim Châu {{ref|14}}. Tháng 2 ÂL, quân Kim nhắm đến lưu vực các sông Dương, Hán, tướng Tống giữ Hưng Nguyên {{ref|15}} là Lưu Tử Vũ gấp lệnh cho Điền Thịnh giữ Nhiêu Phong quan, và cho chạy trạm dịch mời Giới cứu viện. Giới từ Hà Trì đi 300 dặm/ngày đêm, gởi cam vàng cho địch, nói: “Đại quân từ xa đến, hãy dùng để giải khát.” Tát Li Hát cả sợ, nện gậy xuống đất mà nói: “Mày đến sao nhanh vậy!” Đôi bên giao chiến ở Nhiêu Phong lĩnh. Lính Kim khoác giáp nặng trèo lên núi, 1 người lên trước được 2 người đẩy sau, người trước chết rồi thì người sau thay thế. Lính Tống dùng cung nỏ bắn loạn, đẩy đá lớn lăn xuống. Cứ như vậy đến 6 ngày đêm, người chết chất cao như núi mà quân Kim không lui. Giới trả ngàn nén bạc/người để chiêu mộ cảm tử sĩ, tìm được 5000 người, sắp sửa giáp công. Có viên tiểu hiệu mắc tội, trốn sang quân Kim, dẫn đường tắt cho người Kim vượt Thiền Khê lĩnh, ra đằng sau Nhiêu Phong quan, từ trên cao đánh xuống. Quân Tống không chống nổi nên tan vỡ; Giới về giữ huyện Tây. Quân Kim tiến vào Hưng Nguyên, Lưu Tử Vũ lui về giữ Tam Tuyền, đắp lũy ở núi Đàm Độc để cố thủ, Giới cũng chạy về Tam Tuyền hội họp với ông ta. Ít lâu sau quân Kim phải lui, Giới gấp điều binh đón ở Vũ Hưu quan, đánh úp hậu quân của địch, giết được hàng ngàn người, khiến họ bỏ lại tất cả quân nhu. Ban đầu người Kim đặt mưu, cho rằng Giới ở mặt tây, nên vượt hiểm trở tiến vào mặt đông, không ngờ ông đến kịp. Tuy quân Kim chiếm được 3 trọng trấn, nhưng không thể giữ được. Triều đình cho Giới tiến làm Kiểm hiệu thiếu bảo, sung quan Lợi Châu, Lộ, Giai, Thành, Phượng Châu chế trí sứ. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Nhị niên, mệnh Giới kiêm Tuyên phủ xứ trí sứ tư Đô thống chế, tiết chế Hưng, Văn, Long tam châu. Kim cửu khuy Thục, dĩ Giới trú binh Hòa Thượng nguyên ách kì xung, bất đắc sính, tương xuất kì thủ chi. Thì Giới tại Hà Trì, Kim nhân dụng bạn tướng Lý Ngạn Kỳ trú Tần Châu, nghễ Tiên Nhân quan dĩ chuế Giới, phục lệnh du kị xuất Hi Hà dĩ chuế Quan Sư Cổ, Tát Li Hát tự Thương, Vu trực đảo Thượng Tân. Tam niên chánh nguyệt, thủ Kim Châu. Nhị nguyệt, trường khu xu Dương, Hán, Hưng Nguyên thủ thần Lưu Tử Vũ cấp mệnh Điền Thịnh thủ Nhiêu Phong quan, dĩ dịch thư chiêu Giới nhập viện. Giới tự Hà Trì nhật dạ trì tam bách lí, dĩ hoàng cam di địch viết: “Đại quân viễn lai, liêu dụng chỉ khát.” Tát Li Hát đại kinh, dĩ trượng kích địa viết: “Nhĩ lai hà tốc da!” Toại đại chiến Nhiêu Phong lĩnh. Kim nhân bị trọng khải, đăng sơn ngưỡng công. Nhất nhân tiên đăng tắc nhị nhân ủng hậu; tiên giả kí tử, hậu giả đại công. Giới quân cung nỗ loạn phát, đại thạch tồi áp, như thị giả lục trú dạ, tử giả sơn tích nhi địch bất thối. Mộ cảm tử sĩ, nhân thiên ngân, đắc sĩ ngũ thiên, tương giáp công. Hội Giới tiểu hiệu hữu đắc tội bôn Kim giả, đạo dĩ Tổ Khê gian lộ, xuất quan bối, thừa cao dĩ hám Nhiêu Phong. Chư quân bất chi, toại hội, Giới thối bảo Tây huyện. Địch nhập Hưng Nguyên, Lưu Tử Vũ thối bảo Tam Tuyền, trúc Đàm Độc sơn dĩ tự cố, Giới tẩu Tam Tuyền hội chi. Vị ki, Kim nhân bắc quy, Giới cấp khiển binh yêu vu Vũ Hưu quan, yểm kích kì hậu quân, đọa giản tử giả dĩ thiên kế, tận khí truy trọng khứ. Kim nhân thủy mưu, bổn vị Giới tại tây biên, cố đạo hiểm đông lai, bất ngu Giới trì chí. Tuy nhập tam quận, nhi thất bất thường đắc. Tiến Giới Kiểm hiệu thiếu bảo, sung Lợi Châu, Lộ, Giai, Thành, Phượng Châu chế trí sứ.}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 111, Tống kỷ 111, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng nhị niên (Kim Thiên Hội thập niên)''': Thập nhị nguyệt,... Sơ, Đô nguyên soái Tông Hàn tại Vân Trung, sử Thiểm Tây kinh lược sứ Hoàn Nhan Cảo bầu ngũ lộ binh, dữ Lưu Dự chi Chiêu phủ sứ Lưu Quỳ lai xâm. Thì Tần Phượng lộ phó tổng quản Ngô Lân dĩ binh trú Hòa Thượng nguyên, địch cụ bất đắc tiến, dục dĩ kì thủ Thục, nãi lệnh bạn tướng Lý Ngạn Kỳ trú Tần Châu, khuy Tiên Nhân quan dĩ yếu Ngô Giới, biệt tướng dĩ du kị xuất Hi Hà chuế Quan Sư Cổ, nhi đại quân do Thương, Vu dĩ tiến. Sư Cổ dữ biệt tướng ngộ, bại chi. Hoàn Nhan Cảo chí Thương Châu, xích hậu tương vọng phong thối tẩu. Thủ tướng thiệu Hàng độ bất năng thủ, tức thối đồn Thượng Tân. '''Quyển 112, Tống kỷ 112, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng tam niên (Kim Thiên Hội thập nhất niên)''': Xuân, chánh nguyệt,... Tiên thị Tuyên phủ xử trí sứ Trương Tuấn triệu Bổn tư đô thống chế, tiết chế Hưng, Văn, Long châu Ngô Giới, Kim, Quân, Phòng châu trấn phủ sứ kiêm Bổn tư đồng đô thống chế Vương Ngạn, Lợi Châu lộ kinh lược sứ kiêm Tri Hưng Nguyên phủ Lưu Tử Vũ, hội vu Hưng Nguyên, ước Kim nhân nhược dĩ đại binh thủ Thục, tức tam soái tướng vi ứng viện. Tử Vũ văn địch chí, dụ Ngạn, tỉ dĩ cường nỗ cư hiểm yêu chi; Ngạn tập dụng đoản binh, lũ bình tiểu đạo, bất dĩ Tử Vũ ngôn giới ý. Kim Châu chi tây hữu Khương Tử quan, nãi thừa bình thì thương lữ do Tử Ngọ cốc nhập Kim, Dương chi lộ. Kim thanh ngôn thủ Khương Tử quan lộ nhập Hán Âm huyện, cố Ngạn pha phân binh thủ chi, kí nhi Hoàn Nhan Cảo tự Thượng Tân tật trì, bất nhất nhật chí Tuân Dương cảnh thượng, triệu Hán Âm thống chế quan Quách Tiến, dĩ tam thiên nhân thừa lưu dạ phát, ngộ vu Sa Ôi. Kim nhân xá kị lai công, chiến thập hợp, Kim nhân kiến tiến quân thiểu, bô thì, bộ tốt tịnh tiến, trần ai tế nhật, tiến lực chiến, bại tử. Ngạn viết: “Địch sở dĩ tật trì giả, dục nhân ngô lương thực dĩ nhập Thục nhĩ.” Tức tận phần trữ tích, thối bảo Thạch Tuyền huyện. Kim nhân nhập Kim Châu, Ngạn thối xu Tây Hương. Hội Tuấn khiển cán bạn quan Chân Dao trì thủ thư đốc Ngạn thanh dã trung hội, toại du Tây Hương... Nhị nguyệt,... Thiểm Tây đô thống chế Ngô Giới, dữ Kim binh ngộ vu Chân Phù huyện chi Nhiêu Phong quan... Tiên thị Tri Hưng Nguyên phủ Lưu Tử Vũ, văn Kim Châu phá, tức khiển thống chế quan Điền Thịnh thủ Nhiêu Phong quan, cự Kim nhân lai lộ, thả trì hịch triệu Giới. Thì nghi phủ tư vị hữu hành hạ, Giới viết: “Sự bách hĩ, chư tướng bất năng bạn, ngã đương tự hành.” Trực bí các, chủ quản ki nghi văn tự Trần Viễn Du thỉnh viết: “Địch cử quốc nhi lai, kì phong bất khả đương. tuyên phủ kí mệnh phân thủ, các hữu thủ địa, hà khổ viễn phó! Vạn nhất bất thắng, hối chi vô cập.” Giới bất thính, tự Hà Trì nhất nhật dạ trì tam bách lí. Trung đạo thiểu chỉ, Tử Vũ di thư viết: “Địch đán tịch chí Nhiêu Phong lĩnh hạ, bất thủ thử, thị thiên Thục dã. Công bất tiền, tử vũ đương vãng.” Giới tức phục trì, dữ Kim nhân ngộ. Giới quân tài sổ thiên nhân, ích dĩ Dương Châu nghĩa sĩ vạn tam thiên nhân. Giới tiên dĩ hoàng cam di Hoàn Nhan Cảo viết: “Đại quân viễn lai, liêu phụng chỉ khát. Kim nhật quyết chiến, các trung sở sự.” Hoàn Nhan Cảo đại kinh, dĩ trượng kích địa viết: “Ngô Giới, nhĩ lai hà tốc da!” Thì Kim Phòng trấn phủ sứ Vương Ngạn tự Tây Hương dĩ Bát tự quân lai hội. Chư quân kiến viện chí, sảo thỉ, Giới nộ, dục trảm hiệu trại tướng; tướng tẩu hàng Kim nhân, cáo dĩ hư thật, thả ngôn: “Thống chế quan Quách Trọng Tuân địa phân tuy hiểm, binh quả nhược dịch bại.” Nãi túng sở lược phụ nhân hoàn sơn trại, nhi tự Thiền Khê lĩnh nhiễu xuất quan bối, dạ dĩ khinh binh tập thủ chi, Trọng Tuân quả thối tẩu. Kim sơn kí đắc sơn trại, toại thừa cao hạ hám Nhiêu Phong, nhi dĩ tinh binh giáp công nam sư chi bối, nam sư tận khước, Giới trảm chi bất năng chỉ. Phàm lục nhật, quan phá. Ngô Giới thu dư binh xu Tây huyện. Vương Ngạn thu dư binh bôn Đạt Châu, Tứ Xuyên đại chấn. ... Kim Giám quân Hoàn Nhan Cảo nhập Hưng Nguyên phủ, Kinh lược tư Lưu Tử Vũ phần kì thành nhi độn. Sơ, Nhiêu Phong quan phá, Tử Vũ dữ Ngô Giới mưu thủ Định Quân sơn. Giới đạn Tử Vũ, toại Tây; Tử Vũ diệc thối đồn Tam Tuyền huyện, tòng binh bất cập tam bách, dữ sĩ tốt đồng thô lệ, chí thủ thảo mộc nha nghiệt thực chi, di Giới thư viết: “Tử Vũ thệ tử vu thử, dữ công quyết hĩ.” thì Giới tại Hưng Châu chi Tiên Nhân quan vi thủ bị, đắc thư nhi khấp. Kì ái tướng Dương Chánh đại hô quân môn viết: “Tiết sứ bất khả phụ Lưu đãi chế, bất nhiên, Chánh bối diệc xá tiết sử khứ.” Giới nãi tòng huy hạ do gian đạo dữ Tử Vũ hội vu Tam Tuyền. Kim du kị thậm bách, Giới dạ thị Tử Vũ, phương hàm tẩm, bàng vô cảnh a giả, viết: “Thử hà thì, nhi giản dịch nãi nhĩ!” Tử Vũ khái nhiên viết: “Ngô tử mệnh hĩ, phu hà ngôn!” Giới khấp hạ, phục vãng thủ Tiên Nhân quan. Tử Vũ ước Giới cộng đồn Tam Tuyền, Giới viết: “Quan ngoại, Thục chi môn hộ, bất khả khinh khí. Kim nhân sở dĩ bất cảm khinh nhập giả, khủng Giới nghị kì hậu nhĩ. Nhược tương dữ cư hạ, địch tất tùy nhập hiểm, tắc ngô thế nhật túc, đại sự khứ hĩ. Kim kinh lược kí hạ, Giới đương do Hưng Châu, Hà Trì nhiễu xuất địch hậu Bao Tà sơn cốc, như hành thử huyệt. Địch kiến Giới luyện xuất kì hậu, vị tương dụng kì thiết phục, yêu kì quy lộ, thế tất lang cố. Ngô nhiên hậu cư hiểm yêu kích, khả sử độn tẩu, thử sở vị thiện bại giả bất vong dã.” Tử Vũ dĩ Đàm Độc sơn hình đấu bạt, kì thượng khoan bình hữu thủy, nãi trúc bích lũy, phàm thập lục nhật nhi thành, kì chúng sảo tập. Kí nhi thống chế quan Vương Tuấn hựu dĩ ngũ thiên nhân chí, vu thị quân thế phục chấn... '''Quyển 113, Tống kỷ 113, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng tam niên (Kim Thiên Hội thập nhất niên)''': ...Đông, thập nguyệt,... Canh dần, Ngô Giới gia Kiểm hiệu thiếu bảo, dĩ tổng binh luy niên, hãn ngữ hữu công dã.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Thiệu Hưng nhị niên, kiêm Tuyên phủ sứ tư đô thống chế tiết độ Hưng, Văn, Long châu. Tặc cửu khuy Thục, tất dục dĩ kỳ thủ chi hoàng đệ Tát Lí Hãn dữ tứ thái tử, trừng tiền nhật chi bại bất cảm khuy Hòa Thượng nguyên. Thiệu Hưng tam niên xuân, bầu kì binh tam thập vạn hựu tận phát chư lộ Thiểm quân, thanh ngôn đông quy Thái Nguyên, phản tự Thương, Vu xuất Hán ẩm đảo Lương, Dương. Kim Châu thất thủ, hầu cức soái huy hạ kị binh bội đạo tật trì, trú dạ sổ bách lí, cấp điều binh lợi lãng kính xu Kim, Dương, tiên dĩ hoàng cam sổ bách mai khao tặc soái, viết “Đại quân viễn lai, liêu phụng chỉ khát. Kim nhật quyết chiến, các trung sở sự.” Tát Lí Hãn dĩ trượng kích địa đại kinh viết “Ngô hầu nhĩ lai hà tốc da.” Bất cảm cự tiến, bàn hoàn luy nhật. Hầu đắc dĩ kì hạ trì Nhiêu Phong lĩnh trại, sách phương cư yếu hiểm, nhi địch dĩ huy trung quân cấp thượng, toại đại chiến Nhiêu Phong lĩnh thượng phàm lục trú dạ, địch giai bại nục. Tát Lí Hãn đại nộ, trảm kì thiên hộ bối lặc thập sổ nhân, dĩ tử phạm quan, hựu tiềm quân gian đạo du Thiền Khê lĩnh xuất quan quân hậu đoạn hầu quy lộ. Hầu án binh thừa dạ kính xu Tây huyện, hoặc viết “Thục nguy hĩ”, hầu viết “Địch tảo địa nhi lai khứ quốc viễn đấu nhi tử thương đại bán. Ngô dĩ toàn quân ách kì hàng, Thục khả vô ưu.” Hầu toại vi thanh dã chi mưu, phân đồn chư tướng, kì dĩ đảo hư chi thế, địch tiện toàn Trung Lương sơn, tiếp nguyệt nhất tịch tiềm độn. Tát Lí Hãn quy, nãi phục hầu thiện dụng binh, thế bất năng phá, tắc mật khiển thông thư, bách đoan gian dụ, ngôn “Kim quốc uy đức chi thịnh, trí dũng chi kỳ, giáp binh chi cường, công nghi tương thì nhi động.” Hầu phục thư vân “Giới cẩn bạch Kim quốc đô thống túc hạ, đấu mông kì thư, cụ thẩm nhã hoài sĩ các hữu chủ, bất dung giam. Hắc, bỉ dĩ chi tình bất thông, không tự sai nhị vô phục bình định thì dã, triếp sư tả khổn, phức dụng đáp nhã huống. Duy túc hạ lượng chi phu, trung ngoại dị vực quân thần dị phân thử. Thiên hạ đại nghĩa cổ kim thường lí, thuận chi tắc trì, nghịch chi tắc loạn, phi quan truyện kí sổ thiên. Bách niên dĩ lai, phàm thiết danh hiệu dữ. Phu bạn thần tặc tử xưng binh phạm thượng, soái bất toàn chủng, di diệt vô di, loại giả dĩ kì bội đại nghĩa phản thường lí, thần nhân phẫn tật, thiên địa bất dung dã. Ngã Thái Tổ hoàng đế đĩnh sanh Ngũ Quý, tao thì hôn loạn, kiên thủ thần tiết, ủy chất Sài thị trượng thuận, thảo nghịch công tắc vũ trụ. Chúc Thế Tông khí đại lịch sổ, hữu quy bách vạn chi chúng hoàn hô ủng đái bất đắc dĩ, nhi quân chi bất sát nhất sĩ, bất đọa nhất thành. Thử dữ Nghiêu Thuấn hà dị tai. Thâm nhân hậu đức, bố hoạch hàm dưỡng, hành tam bách niên. Dân chí lão tử bất thức can qua, thượng hạ nữu tập vũ bị, bất tu sĩ khí, bất bị đạo tặc, thừa chi quận huyền ngõa giải. Chí kim ngũ lục niên nhi vị định thử cái. Thái bình nhật cửu trì, doanh thủ thành thất kì đạo dã, nhi vị Kim quốc uy đức chi thịnh, giáp binh chi cường, năng chí thị hồ thả Kim quốc hành sư chiến thắng đắc chí diệc hữu do dã. Hãm thành phá ấp, túng sĩ phiếu lược, tứ kì sở thủ tốt đồ tham đắc, cổ dũng tranh phấn thắng tắc thắng hĩ, nhi sát thương tàn tặc, biến động hòa khí, diệc dĩ thậm hĩ. Dĩ thử dụng sĩ lợi tận tắc sĩ bất khả sử, dĩ thử quyết chiến tài đàn tắc chiến bất khả tất. Túc hạ thị kim chi thiên hạ hà như, tao phần thiêu giả thập bất tồn nhất nhị, canh nông thất nghiệp, thương cổ lưu vong, ngạ tử giả tương chẩm tạ, sở vị tài lợi hà hữu tai thiết ưu. Túc hạ chi sĩ tự thị bất khả dĩ sử, túc hạ chi chiến tự thị bất khả dĩ tất, túc hạ diệc khả dĩ thiểu hưu tai nãi phục tụ, thanh từ chi nhưỡng dịch phù đấu sao chi tử, tỉ bán ủng hư khí bỉ Lưu Dự giả thường bắc diện bổn triều bị vị đài sát, phụ thượng hoàng bạt trạc chi ân, lâm nan úy nọa bất năng dĩ tử báo quốc nhi thừa tiện để gian nghiêu hãnh phi vọng, tam xích đồng tử giai tri bỉ khí nhi thóa mạ chi. Kì thượng hà nhan diện dĩ thị thính vu thiên địa chi gian, vọng thiên hạ quy chi da. Nhiên Kim quốc kí tiễn ngã tông xã, hựu thiêu Dự tặc, dĩ thần phản quân, cố thiên hạ đại nghĩa cổ kim thường lí Kim quốc tận tảo trừ chi hĩ, nhi dục dĩ tĩnh loạn bất tri thích, sở dĩ triệu loạn dã. Chúa thượng thông minh hiếu hữu từ nhân cung kiệm văn vu thiên hạ, thủy phụng sử Kim quốc bất năng lưu kỵ kinh sư biến cố, thích tòng binh phiên khổn âu ca du, chúc tự vị ứng thiên thật Thái Tổ hưng vương chi địa thiên ý, chiêu chiêu khả kiến hĩ. Duy Dương chi dịch, đại binh yểm chí, thương hoàng vô bị, trung ngoại thất sắc, nhiên đại giá nam hạ, hoành xung phong đào, ki sổ thiên lí, như hành nhẫm tịch tư dịch chi tốt vô nhất bất bị, nhi Kim quốc chi sĩ lưu li trầm nịch giả quá bán. Thử túc dĩ kiến thiên chi bất khí Triệu thị, tốt dục an toàn chi dã. Kim càn tượng thanh minh, tinh vĩ thuận hành, long đông giới hàn, nhật tinh ôn yến, dương thịnh ẩm bác. Thử Trung quốc chi phúc, dân tâm nhật dĩ cố, sĩ khí nhật dĩ chấn, thái bình khả chỉ nhật. Nhi sĩ dĩ Kim quốc chi chúng, tự xưng đa tài, khởi vô thâm minh thiên đạo, nhi bất tri thẩm trạch thủ xá, an định thiên hạ thượng vi tiền chi phân phân quả, hà vi da. Vãng giả Khiết Đan dữ Trung quốc ước vi huynh đệ, tuynh mâu tương yếu thiên nhật thị thệ, giới sử vãng lai lạc dịch vu đạo, lưỡng triều xích tử thật tiện an chi, nhi ngã nội tà nhân chi mưu hốt khí tái thư trụy thất đại tín, cố thượng thiên bạc phạt hàng thử tai, lệ nhiên hạch kì họa đoan. Cùng kì loạn nguyên, cổ tác giao đấu, Kim quốc dữ hữu lực yên. Kim văn Khiết Đan cừu oán Kim quốc thâm nhập cốt tủy, Bột Hải Hề tập tòng nhi hòa chi tương hội triệu hào anh, củ tập tộc loại, tá viện trung triều, nam bắc thông hoan, phục Tuần cựu minh, tịnh lực hợp thế dĩ sính hám vu Kim quốc. Kim quốc chi binh bạo lộ chiến đấu, yêm duyệt tuế thì, lực bì khí suy, phúc bối thụ địch, túc hạ năng bảo tất thắng hồ? Ám ki hội vẫn uy danh, huy thành công, mạn hậu hoạn, tư thiên hạ vạn thế khẩu thiệt chi sĩ để bạc san tiếu Kim quốc độc hà thủ dã. Giới thế vi Tống thần, thực Triệu thị chi lộc, dựng tử dục tôn vu Trung Nguyên chi địa, thảng hữu nhị tâm, thiên địa quỷ thần thật tru chi, nãi nhục di thuyết sử, tương thì nhi động túc hạ, độ Giới khởi cứ đắc vong sỉ kiến lợi vong nghĩa giả da. Nhất ngôn chi thất, tứ mã mạc cập, thiết vi túc hạ tích chi. Xuân luật phương sơ, vạn vựng hy thái, địch khứ phần mộ, ki du vạn lí chi viễn. Quân trung không tổng pha phục nhạc, phủ canh kí gia cẩn, miên thực dưỡng dĩ tân xuân hòa bình chi phúc.” Giới bạch Tát Lí Hãn đắc thư đại bất bình, nhật dữ chư tướng thục nghị công Giới. Triều đình gia hầu Kiểm hiệu thiếu bảo, sung Lợi Châu, Giai, Thành, Phượng chế trí sứ.}}
 
Tháng 2 ÂL năm thứ 4 (1134), đại quân Kim xâm phạm, đánh Tiên Nhân quan. Trước đó, Giới ở Hòa Thượng nguyên, cho rằng lương thực không đủ, nơi này cách xa đất Thục, bèn lệnh cho Ngô Lân bỏ đi, sửa sang Sát Kim bình nằm bên phải Tiên Nhân quan, dựng một cái lũy, dời binh về giữ nơi đấy. Đến nay, tướng Kim là Ngột Truật, Tát Li Hát cùng tướng ngụy Tề là Lưu Quỳ soái 10 vạn kỵ binh tiến vào, đục núi mở đường, men xuống Lĩnh Đông. Giới đem vạn người chặn đường cái; Lân soái khinh binh đi đường tắt mà đến, cùng quân Kim vừa đi vừa đánh 7 ngày đêm, mới hội họp được với anh trai. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Tứ niên nhị nguyệt, địch phục đại nhập, công Tiên Nhân quan. Tiên thị, Giới tại Hòa Thượng nguyên, hướng quỹ bất kế; Giới hựu vị kì địa khứ Thục viễn, mệnh Lân khí chi, kinh doanh Tiên Nhân quan hữu Sát Kim bình, sang trúc nhất lũy, di nguyên binh thủ chi. Chí thị, Ngột Truật, Tát Li Hát cập Lưu Quỳ soái thập vạn kị nhập xâm, tự Thiết Sơn tạc nhai khai đạo, tuần Lĩnh Đông hạ. Giới dĩ vạn nhân đương kì xung. Lân soái khinh binh do Thất Phương quan bội đạo nhi chí, dữ Kim binh chuyển chiến thất trú dạ, thủy đắc dữ Giới hợp.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Thiệu Hưng tứ niên xuân nhị nguyệt, tặc phục đại nhập. Tát Lí Hãn, Tứ thái tử súc phẫn nhật cửu, củ hợp binh sổ thập vạn, chuyển Tam Hà chi Túc Ngư quán nghĩ phụ, quyết ý thủ Thục, tự nguyên soái dĩ hạ giai tận thất dĩ lai, hựu dĩ Lưu Dự phúc tâm vi chiêu phủ sứ, triệu chư lộ thiêm quân liệt đồn Bảo Kê, miên tuyên sổ bách lí, tiến công Thiết Sơn, tạc nhai khai đạo, vu Tiên Nhân quan cao lĩnh thượng lập đại sách, hạ khám hầu doanh, tuần Lĩnh Đông hạ, trực công hầu quân. Hầu tự dĩ vạn nhân đương kì tiền, hầu đệ tổng quản Ngô Lân do Thất Phương quan bất đãi hội hợp, soái khinh binh bội đạo nhập viện kì huynh.”}}
 
Tháng 3 ÂL, quân Kim tấn công doanh Tống, bị Giới đánh đuổi. Quân Kim lại lấy thang mây đánh tường lũy, bị tướng Tống là Dương Chánh lấy sào đẩy phá nát thang mây, lấy mâu dài đâm lính Kim. Quân Kim 2 mặt giáp công: Ngột Truật ở đông, Hàn Thường ở tây; Ngô Lân vung đao vạch đất, nói với chư tướng: “Có chết thì chết ở đây, ai lui thì chém!” Lân soái binh tinh nhuệ đứng ở giữa, xoay cả hai mặt, tùy tình hình mà phát động. Hồi lâu, quân của Lân dần suy yếu, bèn gấp gáp lùi lại lớp ải thứ hai. Quân Kim đổi lính mới, người nào cũng khoác giáp nặng, dùng móc sắt nối với nhau, cùng trèo lên như xâu cá. Lân sai Trú đội thỉ thay phiên bắn xuống, tên trút như mưa, xác chết chất chồng, quân Kim giẫm đạp mà trèo lên. Tát Li Hát dừng xe ngựa để trông hồi lâu, rồi nói: “Tôi nắm được rồi.” Hôm sau, Tát Li Hát lệnh cho quân Kim đánh lầu ở góc tây bắc. Tướng Tống là Diêu Trọng trèo lên lầu hăng say chiến đấu; lầu nghiêng, Trọng lấy lụa làm dây thừng, kéo lại cho ngay. Quân Kim dùng lửa đốt lầu, Trọng lấy hũ rượu dập tắt. Giới gấp sai Điền Thịnh đem đao dài búa lớn ra xông pha, đốt đuốc sáng bốn tòa núi, nổi trống rung cả mặt đất. Hôm sau, đại quân Tống tràn ra, thống lĩnh Vương Hỷ, Vương Vũ soái binh tinh nhuệ, chia làm cờ tím – cờ trắng xông vào doanh trại địch, khiến trận thế của quân Kim rối loạn. Quân Tống hăng hái tấn công, bắn trúng mắt trái của Hàn Thường, quân Kim bắt đầu rút lui. Giới sai Thống chế quan Trương Ngạn cướp trại Hoành Sơn; Vương Tuấn mai phục ở Hà Trì chẹn đường về của địch, lại đánh bại quân Kim. Ngoài ra, Giới cho rằng Quách Chấn chiến đấu bất lực, bắt chém ông ta. Chiến dịch Tiên Nhân quan, quân Kim từ nguyên soái trở xuống đều đem theo vợ con, Lưu Quỳ cũng cho rằng có thể chiếm được Thục. Đến nay, Quỳ nhắm không thể đánh nổi Giới, bèn lui về giữ Phượng Tường, giao ruộng cho binh sĩ, tính kế lâu dài. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Địch thủ công Giới doanh, Giới kích tẩu chi. Hựu dĩ vân thê công lũy bích, Dương Chánh dĩ chàng can toái kì thê, dĩ trường mâu thứ chi. Lân bạt đao họa địa, vị chư tướng viết: “Tử tắc tử thử, thối giả trảm!” Kim phân quân vi nhị, Ngột Truật trận vu đông, Hàn Thường trận vu tây. Lân soái duệ tốt giới kì gian, tả oanh hữu nhiễu, tùy ki nhi phát. Chiến cửu, Lân quân thiểu bại, cấp đồn đệ nhị ải. Kim sanh binh chủng chí, nhân bị trọng khải, thiết câu tương liên, ngư quán nhi thượng. Lân dĩ Trú đội thỉ điệt xạ, thỉ hạ như vũ, tử giả tằng tích, địch tiễn nhi đăng. Tát Li Hát trú mã tứ thị viết: “Ngô đắc chi hĩ.” Dực nhật, mệnh công tây bắc lâu, Diêu Trọng đăng lâu hàm chiến, lâu khuynh, dĩ bạch vi thằng, vãn chi phục chánh. Kim nhân dụng hỏa công lâu, dĩ tửu phữu phác diệt chi. Giới cấp khiển thống lĩnh Điền Thịnh dĩ trường đao đại phủ tả hữu kích, minh cự tứ sơn, chấn cổ động địa. Minh nhật, đại xuất binh. Thống lĩnh Vương Hỷ, Vương Vũ soái duệ sĩ, phân tử, bạch kì nhập Kim doanh, Kim trận loạn. Phấn kích, xạ Hàn Thường, trúng tả mục, Kim nhân thủy tiêu độn. Giới khiển Thống chế quan Trương Ngạn kiếp Hoành Sơn trại, Vương Tuấn phục Hà Trì ách quy lộ, hựu bại chi. Dĩ Quách Chấn chiến bất lực, trảm chi. Thị dịch dã, Kim tự nguyên soái dĩ hạ, giai huề nô lai. Lưu Quỳ nãi Dự chi phúc tâm, bổn vị Thục khả đồ, kí bất đắc sính, độ Giới chung bất khả phạm, tắc hoàn cư Phượng Tường, thụ giáp sĩ điền, vi cửu lưu kế, tự thị bất vọng động.}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 113, Tống kỷ 113, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng tứ niên (Kim Thiên Hội thập nhị niên)''': Tam nguyệt, tân hợi sóc, Xuyên Thiểm tuyên phủ tư đô thống chế Ngô Giới bại Kim nhân vu Tiên Nhân quan.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Tứ thái tử văn chi, dữ hoàng đệ Lang Quân phân lĩnh vạn hộ tù trưởng ủng binh cấp công, hựu vãng công Sát Kim bình dã, sài đối lũy tráp liên châu ngạnh trại sổ thập tọa, hựu lai hầu doanh tiền, lập pháo sổ thập tọa, kích ngã doanh. Hầu lệnh doanh trung tinh phát thần tí cung, phi đại pháo tễ địch vô số. Thống chế quan Điền Thịnh tổng binh thâm nhập truy địch, địch hựu phát sanh binh vạn dư kích doanh tả, hầu phân binh lực chiến khước chi. Địch bất trụ hựu thiêm sanh binh ủng đỗng tử vân thê, trực tiền đáp thành thân. Hầu binh hướng tiền dụng pháo đả đỗng tử, toái dụng chàng can, chàng vân thê đảo. Địch nộ phược hư bằng chiến lâu, biệt khiển Đại bối lặc ủng duệ tốt vạn dư, nhất phát thừa thành. Hầu lệnh Thống chế quan Dương Chánh lĩnh trường thương, mạch đao thủ thâm nhập, thứ đả cách đoạn. Địch hựu khiển Nhị bối lặc tổng chánh giáp kim nhân nhị vạn, giáp công sách lưỡng lặc. Ngô Lân tả hữu già hộ huyết chiến, sát địch giai dẫn khứ. Tát Lí Hãn trú mã tứ cố lương cửu, vân “ngô đắc chi hĩ”, dực nhật hiệu lệnh chư quân tinh lực chích công hầu doanh. Đoài phương nhất lâu tử, tự dần chí ngọ nguy thậm, Diêu Trọng – mã thống lĩnh chích tại lâu thượng hàm đấu, lâu dĩ khuynh trắc, Trọng dĩ quyên vi thằng, duệ sử phục chánh. Địch dĩ hỏa phần lâu trụ, Trọng dĩ tửu hồ kích diệt hỏa. Địch bố thần tí cung Đông lĩnh hạ, hầu diệc phát thần tí cung ngũ bách chích dữ chi đối xạ. Địch khứ, tức khiển Vương Vạn Niên, Lưu Kiềm Hạt tuấn thủy, Vương Vũ, Tuyên Tán phân tử, bạch kì nhập địch. Địch bôn hội. Để dạ, hầu biệt khiển ngũ tướng phân canh kiếp trại, trú dạ sổ thập hợp. Kim nhân khốn bại, tử thương dĩ vạn kế, tức liễm binh tiêu độn. Sát tử thiên hộ, vạn hộ giáp quân vạn dư, đắc bàng bài, cổn thương, kim cổ, kì xí sổ thiên kiện. Tả quân thống chế Trương Ngạn dạ kiếp địch Hoành Xuyên trại, trảm thủ thiên cấp, sanh cầm tướng lĩnh nhị thập nhân. Hầu hựu khiển Thống chế quan Vương Tuấn thiết phục Hà Trì, ách tặc quy lộ, sanh cầm bách dư nhân, trảm thủ thiên cấp, đắc mã, kì xí vô số. Hầu tất binh vĩ tập, trực quá Hòa Thượng nguyên khứ. Thượng văn chi gia thán, tứ dĩ thân trát vân “Sử vị Triệu Sung Quốc trầm dũng hữu đại lược, kì dụng binh dĩ toàn sư bảo thắng, vi liễn nãi Hán Trung Hưng lương tướng dã. Trẫm thường tư kì nhân dĩ tể đại nghiệp, cập kiến tuyên phủ tư tấu Kim nhân ủng đại binh nhi lai, hữu thôn phệ Tứ Xuyên chi tâm, khanh năng bảo quan khắc địch, tỏa bỉ hổ lang chi duệ nhi tráng trẫm hưng phục chi uy, phi mưu dĩ tể dũng, năng nhược thị da trẫm chi sở tư. Kim nãi kiến chi đãn hận trở viễn, bất đắc phủ khanh bối nhi úy trẫm tâm dã, canh tại bất kiêu kì chí ích lệ quân tình, tắc sở vị tể trẫm mạc đại chi nghiệp, giả phi khanh nhi thùy. Dĩ hàng thân bút trừ khanh Tuyên phủ sứ cập kế, dĩ trẫm sở ngự chiến bào khí giáp đẳng vật, tứ khanh tưởng dĩ tất đạt. Kim triều đình kiến nghị thưởng điển, tiên phi thử sổ tự liêu tả trẫm hoài.” Kim nhân cửu bất đắc chí, tắc hoàn cư Phượng Tường, thụ giáp đồn điền vi cửu lưu kế, tự thị bất cảm khinh động.}}
 
Nghe tin thắng trận, triều đình thụ Giới làm Định quốc tiết độ sứ, Xuyên Thiểm tuyên phủ phó sứ. Tướng Tống là Quan Sư Cổ nhận lệnh của Giới thâm nhập đất địch, đại bại, sợ tội nên hàng Kim, toàn bộ tướng sĩ bộ hạ của ông ta không ai đi theo mà cùng nhau quay về. Giới yêu lòng trung nghĩa ấy, đem gia sản chu cấp cho họ, thu nạp vào đội ngũ của mình. Tháng 4 ÂL, Giới giành lại 3 châu Phượng, Tần, Lũng. Tháng 7 ÂL, triều đình xét công ở Tiên Nhân quan, bái Giới làm Kiểm hiệu thiếu sư, Phụng Ninh, Bảo Định quân tiết độ sứ, Lân từ Phòng ngự sứ được thăng làm Định Quốc quân Thừa tuyên sứ, Dương Chánh trở xuống được thăng trật có phân biệt. Năm thứ 6 (1136), Giới được kiêm quan Doanh điền đại sứ, dời làm Bảo Bình, Tĩnh Nan tiết độ sứ. Năm thứ 7 (1137), Giới sai tì tướng Mã Hi Trọng đánh Hi Châu; Hi Trọng thua chạy, còn để mất Củng Châu, Giới bèn chém ông ta làm răn. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Tiệp văn, thụ Giới Xuyên Thiểm tuyên phủ phó sứ. Tứ nguyệt, phục Phượng, Tần, Lũng tam châu. Thất nguyệt, lục Tiên Nhân quan công, bái Kiểm hiệu thiếu sư, Phụng Ninh, Bảo Định quân tiết độ sứ, Lân tự Phòng ngự sứ thăng Định Quốc quân Thừa tuyên sứ, Dương Chánh dĩ hạ thiên trật hữu soa. Lục niên, kiêm Doanh điền đại sứ, dịch Bảo Bình, Tĩnh Nan tiết. Thất niên, khiển tì tướng Mã Hi Trọng công Hi Châu, bại tích, hựu thất Củng Châu, Giới trảm chi.}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 113, Tống kỷ 113, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng tứ niên (Kim Thiên Hội thập nhị niên)''': Hạ, tứ nguyệt, canh thần sóc, chế thụ Ngô Giới Định Quốc quân tiết độ sứ, Xuyên Thiểm tuyên phủ phó sứ. Giới nhân trừ tuyên phó, toại di trấn, gia ân, đế tứ dĩ sở ngự chiến bào, khí giáp, thả tứ thân bút viết: “Trẫm hận trở viễn, bất đắc phụ khanh chi bối dã!”... Bính tuất, Ngô Giới dữ Kim nhân chiến, bại chi, toại phục Phượng, Tần, Lũng châu... '''Quyển 116, Tống kỷ 116, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng lục niên (Kim Thiên Hội thập tứ niên)''': Tam nguyệt,... Kiểm hiệu thiếu sư, Phụng Ninh, Bảo Tĩnh quân tiết độ sứ, Xuyên Thiểm tuyên phủ phó sứ Ngô Giới dịch trấn Bảo Bình, Tĩnh Nan, Hưng Châu trí tư. '''Quyển 119, Tống kỷ 119, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng thất niên (Kim Thiên Hội thập ngũ niên)''': Thị đông, Xuyên Thiểm tuyên phủ phó sứ Ngô Giới khiển tì tướng Mã Hi Trọng công Hi Châu. Hi Trọng tố vọng dong, đắc hịch tức khí tác, bất đắc dĩ tiến doanh Hi Châu thành ngoại sổ thập lí. Hi Châu phụ lão văn quan quân lai, hữu dục suất chúng quy phụ giả, Kim tướng tuyên ngôn viết: “Bắc quân kim nhật đại chí, đương cộng kiếp doanh.” Hi Trọng văn chi, hôn thì bạt trại độn khứ. Hi Trọng hoàn, Giới trảm chi dĩ tuẫn.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Hầu dĩ Hi Hà kinh lược tư Quan Sư Cổ tự Thao, Mẫn lĩnh Tuyển phong thống chế Lý Tiến, Tiền quân thống chế Vương Sư Cổ, Hậu quân thống chế Đái Việt đả Lương Hà châu, tập Đại Đàm huyện, yểm Cốt Cốc trấn. Địch mộ vị bạt trại khứ, Sư Cổ do Sát Mã cốc công Tiêu Sơn vụ, phần Điền Gia thôn, Viên Tử cốc, thâm nhập địch cảnh, chí Thạch Yếu lĩnh hốt ngộ Kim địch đại binh, nhất chiến bại tích. Sư Cổ toàn sư Đại Đàm, nội hoài tàm cụ, tất hoàn binh tuyên tư, chích thân vãng hàng Kim. Hầu ái thử quân trung nghĩa, vô nhất nhân nhất kị tòng Sư Cổ bạn giả, phủ tồn lao lai, quyên kì gia tài hậu tư cấp chi. Lưỡng quân kí hợp trung ngoại, nhất tâm thất nhất thất. Phu vu Sư Cổ, đắc vạn tỳ hưu vu hành trận, hầu do thử binh tinh thậm. Tứ nguyệt, tỉ trấn Định Quốc, trừ Xuyên Thiểm tuyên phủ phó sứ. Thu, thất nguyệt, triều đình lục Tiên Nhân quan công, tiến Kiểm hiệu thiếu sư, Phụng Ninh, Bảo Tĩnh quân tiết độ sứ. Ngũ niên, xuân, hầu hướng Thiên Thủy xuất kỳ binh hạ Tần Châu. Lục niên, kiêm Doanh điền đại sứ, tỉ trấn Bảo Bình, Tĩnh Nan quân.}}
 
==Những năm cuối đời==
Giới cùng quân Kim đối lũy chừng 10 năm, nắm rõ hình thế chiến trường, cũng hiểu rõ năng lực quân đội. Năm thứ 7 (1137), nhà Kim phế bỏ chính quyền ngụy Tề, đánh tiếng muốn lấy đất Thục. Giới không tin, quả nhiên người Kim không có hành động gì. Giới luôn lo lắng việc tiếp vận gây vất vả cho dân, nhiều lần bãi bỏ quan viên tham nhũng, hạn chế những chi phí phù phiếm, tăng cường sửa sang đồn điền, hằng năm thu hoạch đến 10 vạn hộc lúa. Giới còn điều động lính thú, lệnh cho tướng lãnh dưới quyền sửa sang đê điều, khiến dân thấy việc tưới tiêu có thể nhờ cậy, đồng ý quay về an cư chừng vài vạn gia đình. Tháng 9 ÂL, triều đình nghe tin doanh điền dưới quyền Giới thu hoạch 20 vạn cân lương thực, hạ chiếu khen ngợi. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Giới dữ địch đối lũy thả thập niên, thường khổ viễn hướng lao dân, lũ thái nhũng viên, tiết phù phí, ích trì đồn điền, tuế thu chí thập vạn hộc. Hựu điều thú binh, mệnh Lương, Dương thủ tướng trì bao thành phế yển, dân tri quán khái khả thị, nguyện quy nghiệp giả sổ vạn gia.}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 119, Tống kỷ 119, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng thất niên (Kim Thiên Hội thập ngũ niên)''': Cửu nguyệt,... Đinh hợi,... Trung thư ngôn: “Xuyên Thiểm tuyên phủ sứ Ngô Giới, vu Lương, Dương khuyến dụ quân dân doanh điền, kim hạ nhị mạch tịnh ước thu thành sở thu, cận nhị thập vạn thạch, khả tỉnh quỹ hướng.” Chiếu tưởng chi.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Hầu dữ Kim binh đối lũy giao chiến du thập niên, thục kì quân lũy khúc chiết, tri kì bộ lĩnh kiên thúy, thường dĩ nhất đương bách, duy hoạn viễn hướng lao dân, lũ thái nhũng viên quan, tiết phù phí. Tuế đồn điền chí thập vạn hộc, hựu điều thú binh, mệnh Lương, Dương thủ tướng trì bao thành, phế yển, quảng khái dân điền, phục nghiệp sổ vạn. Triều đình gia chi, tỉ thư bao thưởng. Thất niên, đông, địch phế Lưu Dự, triệu chư đạo binh thanh ngôn nhập Thục. Hầu độc vị bất nhiên, liễn kì tương khứ dĩ nhi. Quả nhiên hòa nghị thành,...}}
 
Năm thứ 9 (1139), Tống – Kim ký kết hòa ước Thiệu Hưng, triều đình phong thưởng cho chư tướng, Giới được thụ làm Đặc tiến, Khai phủ nghi đồng tam tư, thăng Tứ Xuyên tuyên phủ sứ, các châu Giai, Thành thuộc Thiểm Tây đều nghe tiết chế của ông. Triều đình sai nội thị đem chiếu thư viết tay của hoàng đế cho Giới, đến nơi thì Giới phát bệnh nặng, phải nhờ dìu đỡ mới có thể nhận chiếu thư. Tống Cao Tông nghe tin lo lắng, sai Tứ Xuyên chế trí sứ Hồ Thế Tương đòi thầy thuốc giỏi ở Thành Đô chữa trị, đưa gấp Thái y đi thăm bệnh. Tháng 6 ÂL, Giới bệnh mất ở trong quân, hưởng thọ 47 tuổi. Cao Tông nghỉ chầu 2 ngày, tặng Thiếu sư, ban 30 vạn tiền. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Cửu niên, Kim nhân thỉnh hòa. Đế dĩ Giới công cao, thụ Đặc tiến, Khai phủ nghi đồng tam tư, thiên Tứ Xuyên tuyên phủ sứ, Thiểm Tây Giai, Thành đẳng châu giai thính tiết chế. Khiển nội thị phụng thân tráp dĩ tứ, chí, tắc Giới bệnh dĩ thậm, phù dịch thính mệnh. Đế văn nhi ưu chi, mệnh thủ thần tựu Thục cầu thiện y, thả sức quốc công trì thị, vị chí, Giới tốt vu Tiên Nhân quan, niên tứ thập thất. Tặng Thiếu sư, tứ tiền tam thập vạn.}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 121, Tống kỷ 121, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng cửu niên (Kim Thiên Quyến nhị niên)''': Xuân, chánh nguyệt,... Nhâm thìn, Thái úy, Vũ Thắng, Định Quốc quân tiết độ sứ, Hồ Bắc, Kinh Tây tuyên phủ sứ Nhạc Phi, Bảo Bình, Tĩnh Nan quân tiết độ sứ, Xuyên Thiểm tuyên phủ phó sứ Ngô Giới, tịnh Khai phủ nghi đồng tam tư... '''Quyển 122, Tống kỷ 122, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng cửu niên (Kim Thiên Quyến nhị niên)''': Lục nguyệt,... Bảo Bình, Tĩnh Nan quân tiết độ sứ, Khai phủ nghi đồng tam tư, Tứ Xuyên tuyên phủ sứ Ngô Giới hoăng vu Tiên Nhân quan, niên tứ thập thất. Chiếu xuyết triều nhị nhật, tặng thiếu sư, phụ bạch thiên thất.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Quả nhiên hòa nghị thành, thượng dĩ hầu công cao, tứ Thân trát tiến Khai phủ nghi đồng tam tư, Tứ Xuyên tuyên phủ sứ. Nhi hầu dĩ bệnh, tự dĩ thưởng quá công, cố từ. Ưu chiếu bất hứa. Cửu niên, xuân, tam nguyệt, hầu dĩ tật cách, khất giải sự. Thiên tử trắc nhiên, ưu chi, mệnh Thành Đô thủ Hồ Thế Tương phóng Thục thiện y giả, trì kì tật, hựu trì quốc y vãng thị. Vị chí nhi hầu dĩ lục nguyệt dĩ dĩ hoăng vu quân, hưởng niên tứ thập thất. Dĩ hợi di biểu văn, thượng chấn điệu xuyết thị triều, đặc tặng Thiếu sư.}}
 
==Đánh giá==
Giới ưa đọc sách, mỗi khi xem sử truyện, thấy có lời hay thì chép lại cạnh chỗ ngồi; lâu ngày, tường vách đều có cách ngôn. Giới dùng binh theo lối của Tôn, Ngô, tính kế sâu xa, không ham món lợi nhỏ, nên có thể bảo đảm ắt thắng. Giới quản lý bộ hạ nghiêm khắc nhưng có ơn, ân cần thăm hỏi, thân là đại tướng nhưng nắm rõ tình hình kẻ dưới, kể cả binh tốt, nên tướng sĩ vui vẻ vì ông mà chết. Giới tuyển chọn tướng tá, đều xem công lao và năng lực chứ không xét chức vụ hay thâm niên, cũng không để cho thân nhân, quyền quý quấy nhiễu. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Giới thiện độc sử, phàm vãng sự khả sư giả, lục trí tọa hữu, tích cửu, tường dũ giai cách ngôn dã. Dụng binh bổn Tôn, Ngô, vụ viễn lược, bất cầu tiểu cận lợi, cố năng bảo tất thắng. Ngự hạ nghiêm nhi hữu ân, hư tâm tuân thụ, tuy thân vi đại tướng, tốt ngũ chí hạ giả đắc dĩ tình đạt, cố sĩ nhạc vi chi tử. Tuyển dụng tướng tá, thị lao năng vi cao hạ tiên hậu, bất dĩ thân cố, quyền quý nạo chi.}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 122, Tống kỷ 122, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng cửu niên (Kim Thiên Quyến nhị niên)''': Giới ngự hạ nghiêm nhi hữu ân, cố sĩ nhạc vi chi tử.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Hầu năng phủ sĩ tốt, đồng kì cam khổ. Chí quân chánh tắc trảm, ngải bất nhất thải, cố nhân nhân hiệu tử. Như Kiến Viêm nhị niên, Khúc Đoan đồn Ma Vụ trấn đốc chiến, hầu khiển liệt hiệu tam bách thất thập dư nhân vu Đại Cốc Bỉ Giác lĩnh nghênh chiến, thỉ thạch vị giao, vọng phong bôn hội, phục nặc sơn cốc. Tứ niên, hầu chiêu binh Tần Phượng, tiền tam bách thất thập dư nhân xuất phó chiêu an, hầu vấn tấn tái tam sảo tác phi thị giả ngũ lục nhân, xích khiển chi, dư tam bách thất thập nhân tất trảm vu viễn đình hạ khứ Tần Châu thập lí. Sĩ tốt cổ lật, tự thị xuất chiến nhân giai hiệu tử, chí đệ công thưởng tắc đoạn dĩ công luận, vô thỉnh thác chi tư. Tính nhạc thiện, mỗi quan sử truyện, hữu khả sư giả tất thư chi tọa, hữu nhật tụng thất thư. Kì dụng binh bổn Tôn Ngô nhi năng cùng kì biến hóa. Tuy công cao quý hiển nhi cư thường cực kiệm ước, chí thôi dĩ dư sĩ tắc lược vô thiểu lận kì một dã. Gia vô dư ti, chí vô trạch dĩ cư.}}
 
Giới mất, Hồ Thế Tương hỏi Giới làm thế nào giành thắng lợi, Ngô Lân đáp: “Lân theo anh trai chiến đấu với Tây Hạ, mỗi khi vào trận, chẳng qua một chốc tiến lùi, thắng bại liền phân. Còn người Kim, thì thêm lần tiến lại lần lui, nhẫn nại kiên trì, quân lệnh tàn khốc hễ lùi ắt chết, mỗi lần vào trần hàng ngày khgông xong, thắng không đuổi bừa, thua không rối bời. Đây là điều ta dùng binh trước nay chưa từng gặp, cùng họ đối đầu lâu ngày, mới nắm được tình huống. Đó là cung tên của người Kim, không sắc bén bằng của Trung Quốc, binh sĩ của Trung Quốc, không kiên nhẫn bằng của Kim. Ta luôn dựa vào sở trường bắn thủng giáp nặng ngoài mấy trăm bước, thì họ không thể đánh vỗ mặt được; vì thế phải chọn địa hình tiện lợi, dùng lính tinh nhuệ thay phiên quấy nhiễu, cùng họ xung đột không ngừng, nhằm khiến họ không thể nghỉ ngơi, để phá hoại tính kiên nhẫn của họ. Còn như lâm cơ quyết đoán khi vào trận, thì Lân không thể nói được.” {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Giới tử, Hồ Thế Tương vấn Giới sở dĩ chế thắng giả, Lân viết: “Lân tòng tiên huynh hữu sự Tây Hạ, mỗi chiến, bất quá nhất tiến khước chi khoảnh, thắng phụ triếp phân. Chí Kim nhân, tắc canh tiến điệt thối, nhẫn nại kiên cửu, lệnh khốc nhi hạ tất tử, mỗi chiến phi luy nhật bất quyết, thắng bất cự truy, bại bất chí loạn. Cái tự tích dụng binh sở vị thường kiến, dữ chi giác trục tư cửu, nãi đắc kì tình. Cái Kim nhân cung thỉ, bất nhược Trung Quốc chi kính lợi; Trung Quốc sĩ tốt, bất cập Kim nhân chi kiên nại. Ngô thường dĩ trường kĩ đỗng trọng giáp vu sổ bách bộ ngoại, tắc kì xung đột cố bất năng tương cập. vu thị tuyển cư hình tiện, xuất duệ tốt canh điệt nạo chi, dữ chi vi vô cùng, sử bất đắc hưu hạ, dĩ tự kì kiên nhẫn chi thế. Chí quyết ki vu lưỡng trận chi gian, tắc Lân hữu bất năng ngôn giả.”}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 122, Tống kỷ 122, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng cửu niên (Kim Thiên Quyến nhị niên)''': Kì hậu chế trí sứ Hồ Thế Tương vấn Giới sở dĩ thắng vu kì đệ hữu hộ quân đô thống chế Lân, viết: “Địch lệnh khốc nhi hạ tất tử, mỗi chiến phi luy nhật bất quyết, nhiên kì cung thỉ bất nhược Trung Quốc chi kính lợi. Ngô thường dĩ trường kĩ đỗng trọng giáp vu sổ bách bộ ngoại, hựu cư kì hành sử, tranh xuất duệ tốt, dữ chi vi vô cùng, dĩ trở kì kiên nhẫn chi thế. Chí vu quyết ki lưỡng trần chi gian, tắc Lân hữu bất năng ngôn.”}}
 
Cuối đời Giới ham mê sắc dục, khiến người tìm phụ nữ ở Thành Đô, thích ăn đan thạch, nên mắc bệnh khạc ra máu mà chết. Sử cũ nhận xét: Vào lúc quân Tống thua trận Phú Bình, Tần Phượng lộ thất thủ. Người Kim bắt đầu dòm ngó đất Thục, tình thế đông nam nguy cấp, nhờ Giới đứng ra đảm đương tuyến đầu, nếu không thì chẳng còn đất Thục từ lâu, nên người ở Tứ Xuyên đến nay vẫn nhớ ông. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Vãn tiết pha đa thị dục, sử nhân ngư sắc vu Thành Đô, hỉ nhị đan thạch, cố đắc lạc huyết tật dĩ tử. Phương Phú Bình chi bại, Tần Phượng giai hãm, Kim nhân nhất ý nghễ Thục, đông nam chi thế diệc cức, vi Giới thân đương kì xung, vô Thục cửu hĩ. Cố tây nhân chí kim tư chi.}} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 122, Tống kỷ 122, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng cửu niên (Kim Thiên Quyến nhị niên)''': Nhiên Giới vãn tiết thị sắc, đa súc tử nữ, nhị kim thạch, dĩ cố đắc lạc huyết tật tử. Hậu thụy Vũ An.}}
 
==Hậu sự==
Tháng 9 ÂL cùng năm, Giới được em trai Ngô Lân chôn cất ở thành Thủy Lạc. Tháng 11 ÂL, Tống Cao Tông thăng Lân làm Long Thần vệ Tứ Sương đô chỉ huy sứ, nhằm vỗ về gia thuộc họ Ngô. {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 122, Tống kỷ 122, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng cửu niên (Kim Thiên Quyến nhị niên)''': Thập nhất nguyệt,... Định Quốc quân Thừa tuyên sứ, Tri Tần Châu kiêm Tiết chế đồn trú hành doanh hữu hộ quân mã quân Ngô Lân vi Long Thần vệ Tứ Sương đô chỉ huy sứ. Đế dụ đại thần viết: “Ngô Giới cửu tại Thục, bị trứ trung tích, tuy dĩ ưu gia tuất điển, nhiên văn kì gia pha bần, khả vị tiền tam vạn mân, nhưng tiến kì đệ quân chức, lệnh phủ kì gia thuộc.” Cố hữu thị mệnh. '''Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng thập niên (Kim Thiên Quyến tam niên)''': Xuân, chánh nguyệt,... Chiếu tác Trung Liệt miếu vu Tiên Nhân quan, dĩ từ Ngô Giới.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Cửu nguyệt, bính thân, kì đệ Lân phụng tang táng vu Đức Thuận quân Thủy Lạc thành. Thập nhất nguyệt, mậu thân, thượng niệm công bất dĩ, tứ tiền tam thập vạn, trạc Lân Long hổ vệ, Tứ Sương đô chỉ huy sứ dĩ úy tuất kì gia.}}
 
Tháng giêng ÂL năm thứ 10 (1140), triều đình cho dựng miếu thờ Giới ở Tiên Nhân quan, đặt tên miếu là Tư Liệt (hay Trung Liệt), đặt thụy của ông là Vũ An. Thời Tống Hiếu Tông, Giới được truy phong Phù vương. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Thụy “Vũ An”, tác miếu vu Tiên Nhân quan, hiệu “Tư Liệt”. Thuần Hi trung, truy phong Phù vương. }} {{refn|group=Tục thông giám|'''Tục tư trị thông giám quyển 122, Tống kỷ 122, Cao Tông Thụ Mệnh Trung Hưng Toàn Công Chí Đức Thánh Thần Vũ Văn Chiêu Nhân Hiến Hiếu hoàng đế Thiệu Hưng thập niên (Kim Thiên Quyến tam niên)''': Xuân, chánh nguyệt,... Chiếu tác Trung Liệt miếu vu Tiên Nhân quan, dĩ từ Ngô Giới.}}
 
==Gia đình==
Cha là Ngô Ỷ, được làm đến Quân hiệu. Mẹ là Lưu thị, sanh ra anh em Giới, Lân. Nhờ công tích của anh em Giới, 3 đời tiền nhân là ông cụ, ông nội và cha đều được truy tặng quan chức, Ngô Ỷ được tặng Thiếu bảo. {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Ngô Giới... Tằng tổ Khiêm, Thái tử thái bảo; tổ Toại, Thái tử thái phó; phụ Ỷ, Thiếu bảo. Tam thế giai dĩ nghĩa liệt văn.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''[[Kiến Viêm dĩ lai triều dã tạp ký]], Ất tập quyển 12: Tạp sự, [[wikisource:zh: 建炎以來朝野雜記/乙集/卷十二#吳玠福不逮吳璘|Ngô Giới phúc bất đãi Ngô Lân]]''': Phụ Ỷ, vi quân hiệu, thú Lưu thị, sanh tử Giới, Lân.}}
 
Giới có 5 con trai: Củng, Phù, Huy, Khoách, Tổng. Ngô Củng cũng trở thành tướng soái, có thụy là Tương Liệt, những người còn lại đều theo văn nghiệp. {{refn|group=Tống sử|'''Ngô Giới truyện''': Tử ngũ nhân: Củng, Phù, Huy, Khoách, Tổng. Củng diệc ác binh vân.}} {{refn|group=Sử liệu khác|'''Công tích ký''': Tam tử Củng Hữu vũ lang, Phù, Huy giai vi Văn quan thừa phụng lang, dĩ kinh sử tự ngu.}} Tương truyền Củng là con rơi của Ỷ, do tỳ nữ sanh ra. Tính Lưu thị hung hãn lại ghen tuông, Ỷ kiêng dè, nên khiến Giới nhận làm con. {{refn|group=Sử liệu khác|'''Kiến Viêm dĩ lai triều dã tạp ký''': Ngô Tương Liệt bổn Ngô Phù vương thứ đệ dã. Phụ Ỷ, vi quân hiệu, thú Lưu thị, sanh tử Giới, Lân. Kí nhi kì gia tì sanh Củng, Lưu thị hãn nhi đố, Ỷ đạn chi, mệnh Giới danh vi dĩ tử.}}
 
==Tham khảo==
<div style="height: 300px; overflow: auto; padding: 3px; reflist" >
* "Tống sử", "Ngô Giới truyện"
* '''[[Tống sử]]'''
{{tham khảo|group=Tống sử}}
* '''[[Tục tư trị thông giám]]'''
{{tham khảo|group=Tục thông giám}}
* '''Một số sử liệu khác'''
{{tham khảo|group=Sử liệu khác}}
</div>
 
== Chú thích ==
# {{note|1}} Nay là [[huyện (Trung Quốc)|huyện]] [[Tĩnh Ninh]], [[địa cấp thị]] [[Bình Lương, Cam Túc|Bình Lương]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Cam Túc]], [[Trung Quốc]].
# {{note|2}} Nay là [[huyện (Trung Quốc)|huyện]] [[Trang Lãng]], [[địa cấp thị]] [[Bình Lương, Cam Túc|Bình Lương]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Cam Túc]], [[Trung Quốc]].
# {{note|3}} Nay là phía đông [[huyện (Trung Quốc)|huyện]] [[Đại Lệ]], [[địa cấp thị]] [[Vị Nam]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Thiểm Tây]], [[Trung Quốc]].
# {{note|4}} Nay là [[khu (Trung Quốc)|khu]] [[Hóa Châu]], [[địa cấp thị]] [[Vị Nam]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Thiểm Tây]], [[Trung Quốc]].
# {{note|5}} Nay là [[khu (Trung Quốc)|khu]] [[Vũ Đô]], [[địa cấp thị]] [[Lũng Nam]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Cam Túc]], [[Trung Quốc]].
# {{note|6}} Nay là [[huyện (Trung Quốc)|huyện]] [[Thành, Lũng Nam|Thành]], [[địa cấp thị]] [[Lũng Nam]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Cam Túc]], [[Trung Quốc]].
# {{note|7}} Nay là [[huyện (Trung Quốc)|huyện]] [[Lược Dương]], [[địa cấp thị]] [[Hán Trung]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Thiểm Tây]], [[Trung Quốc]].
# {{note|8}} Nay là [[huyện (Trung Quốc)|huyện]] [[Văn, Lũng Nam|Thành]], [[địa cấp thị]] [[Lũng Nam]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Cam Túc]], [[Trung Quốc]].
# {{note|9}} Nay là [[huyện (Trung Quốc)|huyện]] [[Bình Vũ]], [[địa cấp thị]] [[Miên Dương]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Tứ Xuyên]], [[Trung Quốc]].
# {{note|10}} Nay là [[huyện (Trung Quốc)|huyện]] [[Huy, Lũng Nam|Huy]], [[địa cấp thị]] [[Lũng Nam]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Cam Túc]], [[Trung Quốc]].
# {{note|11}} Nay là [[huyện (Trung Quốc)|huyện]] [[Thương, Thương Châu|Thương]], [[địa cấp thị]] [[Thương Châu]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Thiểm Tây]], [[Trung Quốc]].
# {{note|12}} Nay là [[huyện (Trung Quốc)|huyện]] [[Tây Hạp]], [[địa cấp thị]] [[Nam Dương, Hà Nam|Nam Dương]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Hà Nam (Trung Quốc)|Hà Nam]], [[Trung Quốc]].
# {{note|13}} Nay là trấn Thượng Tân, [[huyện (Trung Quốc)|huyện]] [[Vân Tây]], [[địa cấp thị]] [[Thập Yển]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Hồ Bắc]], [[Trung Quốc]].
# {{note|14}} Nay là [[khu (Trung Quốc)|khu]] [[Hán Tân]], [[địa cấp thị]] [[An Khang, Thiểm Tây|An Khang]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Thiểm Tây]], [[Trung Quốc]].
# {{note|15}} Nay là [[khu (Trung Quốc)|khu]] [[Nam Trịnh]], [[địa cấp thị]] [[Hán Trung]], [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Thiểm Tây]], [[Trung Quốc]].
 
{{Trung hưng tứ tướng}}