Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Stephen Hawking”

Đã cứu 3 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.8.6
(Đã cứu 3 nguồn và đánh dấu 0 nguồn là hỏng.) #IABot (v2.0.8.6)
Năm thứ nhất là [[Nghiên cứu|nghiên cứu sinh]] tiến sĩ của Hawking thực sự khó khăn. Ban đầu ông có phần thất vọng vì được chỉ định làm luận án dưới sự hướng dẫn của [[Dennis William Sciama]] thay vì nhà [[thiên văn học]] lừng danh [[Fred Hoyle]],{{sfn|Ferguson|2011|p=33}}{{sfn|White|Gribbin|2002|p=58}} đồng thời thấy mình chưa được trang bị đầy đủ kiến thức [[toán học]] để nghiên cứu [[thuyết tương đối rộng]] và [[vũ trụ học]].{{sfn|Ferguson|2011|pp=33–34}}'
 
Ông cũng phải vật lộn với sức khỏe suy giảm. Hawking bắt đầu vướng phải những khó khăn trong vận động kể từ năm cuối ở [[Oxford]], bao gồm một cú ngã cầu thang và không thể đua thuyền.{{sfn|Ferguson|2011|p=32}}<ref>{{chú thích báo | last = Donaldson | first = Gregg J. | title = The Man Behind the Scientist | url = http://www.mdtap.org/TT/1999.05/1-art.html | archiveurl = https://web.archive.org/web/20050511104943/http://www.mdtap.org/TT/1999.05/1-art.html | archivedate = ngày 11 tháng 5 năm 2005 | publisher = Tapping Technology | date = May 1999 | access-date = ngày 23 tháng 12 năm 2012 | url-status =live dead | archive-date = 2005-05-11 | archive-url = https://web.archive.org/web/20050511104943/http://www.mdtap.org/TT/1999.05/1-art.html }}</ref> Nay vấn đề tệ hơn, và tiếng nói của ông trở lên lắp bắp; gia đình ông nhận thấy sự thay đổi này khi ông nghỉ kì [[Lễ Giáng Sinh|Giáng Sinh]] và đưa ông đi khám bệnh.{{sfn|White|Gribbin|2002|p=59}}{{sfn|Ferguson|2011|pp=34–35}} Năm Hawking 21 tuổi, người ta chẩn đoán ông mắc bệnh thần kinh vận động và khi đó các bác sĩ cho rằng ông chỉ sống thêm được 2 năm nữa.{{sfn|Larsen|2005|pp=18–19}}{{sfn|White|Gribbin|2002|pp=59–61}}
 
Sau khi có kết quả chẩn đoán, Hawking rơi vào trầm uất; mặc dù các bác sĩ khuyên ông tiếp tục học hành, ông cảm thấy chẳng còn mấy ý nghĩa.{{sfn|White|Gribbin|2002|pp=61–63}} Tuy nhiên cùng thời gian đó, mối quan hệ của ông với [[Jane Wilde]], bạn của em gái ông, người mà ông gặp ít lâu trước khi chẩn đoán bệnh, tiếp tục phát triển. Hai người đính hôn vào tháng 10 năm 1964.{{sfn|Ferguson|2011|pp=37–40}}{{sfn|Larsen|2005|p=xiv}} Sau này Hawking nói rằng việc đính hôn đã "cho ông điều gì đó để sống vì nó."{{sfn|Ferguson|2011|p=40}} Mặc cho căn bệnh ngày càng diễn tiến xấu đi-Hawking bắt đầu khó có thể đi mà không có giúp đỡ, và giọng của ông hầu như không thể hiểu được-ông giờ đây quay trở lại công việc với niềm hứng thú.{{sfn|White|Gribbin|2002|pp=69–70}} Hawking bắt đầu nổi danh về trí tuệ xuất chúng cũng như tính cách ngược ngạo khi ông công khai thách thức công trình của [[Fred Hoyle]] và sinh viên của ông này, [[Jayant Narlikar]], trong một bài thuyết trình tháng 9 năm 1964.{{sfn|Ferguson|2011|p=42}}{{sfn|White|Gribbin|2002|pp=68–69}}
* ''[[:en:George's_Cosmic_Treasure_Hunt|George's Cosmic Treasure Hunt]]'' (2009)<ref name="books" />
* ''[[:en:George_and_the_Big_Bang|George and the Big Bang]]'' (2011)<ref name="books" />
**Bản dịch tiếng Việt: [[George Và Vụ Nổ Big Bang]], Lê Minh Đức Dịch, Nhà xuất bản Văn học & Nhã Nam, 2016<ref>{{Chú thích web|url=https://nhanam.vn/sach/george-va-vu-no-bingbang/|tựa đề=George Và Vụ Nổ Big Bang|url-status=livedead|ngày truy cập=2021-08-31|archive-date=2021-08-31|archive-url=https://web.archive.org/web/20210831080358/https://nhanam.vn/sach/george-va-vu-no-bingbang/}}</ref>
 
* ''[[:en:George_and_the_Unbreakable_Code|George and the Unbreakable Code]]'' (2014)<ref name="books" />
|publisher = PBS
|access-date = ngày 26 tháng 6 năm 2012
|archive-date = 2017-12-17
}}</ref>{{sfn|Larsen|2005|p=79}}
|archive-url = https://web.archive.org/web/20171217153344/http://www.pbs.org/program/stephen-hawkings-universe/
|url-status = dead
}}</ref>{{sfn|Larsen|2005|p=79}}
* Hawking (2004) – BBC television film (2004) do diễn viên [[Benedict Cumberbatch]] đảm nhiệm
* ''[[Horizon (BBC TV series)|Horizon]]: The Hawking Paradox'' (2005)<ref>{{chú thích web
321.681

lần sửa đổi