Khác biệt giữa các bản “HMS Tiger (1913)”

n
clean up, replaced: group=Note → group="Ghi chú" (4) using AWB
n (r2.7.1) (Bot: Sửa de:HMS Tiger (1913))
n (clean up, replaced: group=Note → group="Ghi chú" (4) using AWB)
{|{{Infobox ship begin}}
{{Infobox ship image
|Ship image= [[Tập tin: HMS Tiger (1913).jpg|300px|HMS Tiger (1913)]]
|Ship caption= Tàu chiến-tuần dương HMS ''Tiger'' trong cấu hình sau năm 1918, với cột ăn-ten chính phía trước ống khói thứ ba
}}
 
=== Vũ khí ===
''Tiger'' trang bị tám khẩu pháo [[Hải pháo BL 13,5 inch /45|BL {{convert|13,5|in|mm|abbr=on}} Mk V]] bố trí trên bốn tháp pháo nòng đôi vận hành bằng thủy lực, được đặt tên 'A', 'B', 'Q' và 'Y' từ trước ra sau. Các khẩu pháo có thể hạ đến góc −3° và nâng lên đến 20°, cho dù bộ kiểm soát hỏa lực điều khiển tháp pháo bị giới hạn ở góc nâng tối đa 15° 21', cho đến khi được trang bị [[lăng kính]] ngắm siêu nâng ngay trước [[trận Jutland]] vào [[tháng 5]] năm [[1916]] để có thể ngắm ở góc nâng tối đa. <ref name=c27>{{Harvnb|Campbell|1978|p=35}}</ref> Chúng bắn ra đạn pháo nặng {{convert|1400|lb|kg|adj=on|0}} ở [[lưu tốc đầu đạn]] {{convert|2582|ft/s|m/s|abbr=on}}. Ở góc nâng 14,75°, tầm bắn xa của loại [[đạn pháo xuyên thép]] (AP) đạt được {{convert|20000|yd|abbr=on|0}}; và ở góc nâng 20°, tầm bắn xa được mở rộng đến {{convert|23740|yd|m|abbr=on|0}}. Tốc độ bắn của các khẩu pháo này là 1,5–2 quả đạn pháo mỗi phút.<ref>{{cite web|url=http://www.navweaps.com/Weapons/WNBR_135-45_mk5.htm|title=British 13.5"/45 (34.3 cm) Mark V(L) 13.5"/45 (34.3 cm) Mark V(H)|date=1 May 2009|accessdate=4 March 2010|publisher=Navweaps.com}}</ref> Con tàu mang theo tổng cộng 1.040 quả đạn pháo trong thời chiến, 130 quả cho mỗi khẩu pháo. <ref name=b12/>
[[Tập tin:HMS Tiger (1913) secondary battery.jpg|thumb|left|300px|Khẩu đội pháo 6 inch bên mạn trái dưới ống khói ngay phía sau tháp pháo Q]]
Để tự bảo vệ chống lại các [[tàu phóng lôi]], ''Tiger'' được trang bị mười hai khẩu [[hải pháo BL inch Mk VII|BL {{convert|6|in|mm|abbr=on}} Mk VII]], đặt trong các [[tháp pháo ụ]].<ref name=r3/> Các khẩu pháo có thể hạ đến góc −7° và nâng lên đến 14°. Chúng bắn ra đạn pháo nặng {{convert|100|lb|kg|adj=on}} ở lưu tốc đầu đạn {{convert|2775|ft/s|m/s|abbr=on}} và tầm xa tối đa {{convert|14600|yd|m|abbr=on}} ở góc nâng 14°. Tốc độ bắn của chúng là 5–7 phát mỗi phút.<ref>{{cite web|url=http://www.navweaps.com/Weapons/WNBR_6-45_mk7.htm|title=British 6"/45 (15.2 cm) BL Mark VII 6"/45 (15.2 cm) BL Mark VIII 6"/45 (15.2 cm) BL Mark XXIV |date=21 January 2009|accessdate=13 August 2010|publisher=Navweaps.com}}</ref> Mỗi khẩu pháo được cung cấp 120 quả đạn.<ref name=b12/>
 
Con tàu được trang bị một cặp pháo [[chiến tranh phòng không|phòng không]] kiểu [[QF 3 inch 20 cwt]]<ref group=Note"Ghi chú">"cwt" là thuật ngữ viết tắt của “hundredweight”, 20 cwt liên quan đế trọng lượng của khẩu pháo.</ref> trên một bệ góc cao Mark II,<ref name=r3/> có khả năng hạ đến 10° và nâng tối đa lên đến 90°. Nó bắn ra đạn pháo nặng {{convert|12,5|lb|kg|adj=on}} với lưu tốc đầu đạn {{convert|2500|ft/s|m/s|abbr=on}} và tốc độ 12–14 viên mỗi phút. Trần bắn hiệu quả của kiểu pháo này là {{convert|23500|ft|m|abbr=on|0}}.<ref>{{cite web|url=http://www.navweaps.com/Weapons/WNBR_3-45_mk1.htm|title=British 12-pdr (3"/45 (76.2 cm)) 20cwt QF HA Marks I, II, III and IV |date=27 February 2007|accessdate=11 November 2009|publisher=Navweaps.com}}</ref> Nguyên thủy ''Tiger'' mang theo 300 quả đạn cho mỗi khẩu, nhưng trong chiến tranh bị giảm xuống còn 150 quả mỗi khẩu.<ref name=c36>{{Harvnb|Campbell|1978|p=36}}</ref>
 
Bốn ống phóng [[ngư lôi]] ngầm {{convert|21|in|adj=on}} được trang bị bên mạn tàu, một cặp bên mạn phải và một cặp bên mạn trái, trước tháp pháo 'A' và sau tháp pháo 'X'.<ref name=c36/> Chiếc tàu chiến-tuần dương mang theo 20 ngư lôi [[Ngư lôi Anh 21 inch|21 inch Mk II***]]<ref name=r3/> có đầu đạn chứa {{convert|515|lb|0}} thuốc nổ [[Trinitrotoluene|TNT]]. Tầm xa của chúng là {{convert|4500|yd|0}} ở tốc độ {{convert|45|kn}} hoặc {{convert|10750|yd|0}} ở tốc độ {{convert|31|kn}}.<ref>{{cite web|url=http://www.navweaps.com/Weapons/WTBR_PreWWII.htm|title=British Torpedoes Pre-World War II: 21" (53.3 cm) Mark II***|date=12 January 2009|accessdate=7 March 2010|publisher=Navweaps.com }}</ref>
Giống như ''Queen Mary'' và những chiếc thuộc lớp ''Lion'', con tàu còn có một đai giáp trên với độ dày tối đa {{convert|6|in|mm|0}} trên cùng chiều dài với phần dày nhất của đai giáp ở mực nước, giảm còn {{convert|5|in|mm|0}} ngang với các tháp pháo tận cùng. Tuy nhiên, không giống các con tàu trên, ''Tiger'' còn có đường ván bổ sung dày {{convert|6|in|mm|0}} bên trên đai giáp trên để bảo vệ dàn pháo hạng hai. Các vách ngăn dày {{convert|4|in|mm|0}} đóng lại hai đầu cùa thành trì bọc thép. Thép tấm có độ co dãn cao được sử dụng cho các hầm tàu; sàn bọc thép dưới nói chung chỉ dày {{convert|1|-|1.5|in|0}}.<ref name=r23>{{Harvnb|Roberts|1997|p=112–113}}</ref>
 
Các [[tháp pháo]] chính có mặt trước và mặt hông dày {{convert|9|in|mm|abbr=on}}, và lớp vỏ nóc dày {{convert|2,5|-|3.25|in|mm|0}}. [[Bệ tháp pháo]] được bảo vệ bởi vỏ giáp dày {{convert|8|-|9|in|mm|0}} bên trên thành trì, nhưng giảm còn {{convert|3|-|4|in|mm|0}} bên trong thành trì. Tháp chỉ huy chính dày {{convert|10|in|0}} và có nóc dày {{convert|3|-|4|in|mm|0}}; thành của các ống liên lạc dày {{convert|3|-|4|in|mm|0}}. Tháp chỉ huy phía sau được bảo vệ bởi vách dày 6 &nbsp;inch và 3 &nbsp;inch thép đúc trên nóc. [[Vách ngăn chống ngư lôi]] bằng thép co dãn cao dày {{convert|1,5|-|2.5|in|mm|0}} được đặt ngang các [[hầm đạn]] và phòng đạn pháo.<ref name=r23/> Sau khi [[Trận Jutland]] bộc lộ sự mong manh của con tàu đối với đạn pháo bắn tới, một lớp vỏ giáp bổ sung nặng khoảng {{convert|295|LT|t}} được tăng cường cho sàn tàu bên trên hầm đạn, nóc tháp pháo và các vách ngăn phân cách các khẩu pháo 6 &nbsp;inch.<ref name=b19/>
 
=== Chế tạo ===
=== Trận Dogger Bank ===
{{Main|Trận Dogger Bank (1915)}}
Ngày [[23 tháng 1]] năm [[1915]], một lực lượng tàu chiến-tuần dương Đức dưới quyền chỉ huy của Đô đốc [[Franz von Hipper]] lên đường để quét sạch khu vực Dogger Bank khỏi mọi tàu đánh cá hay tàu nhỏ của Anh vốn có thể hiện diện để thu thập tin tức tình báo về các hoạt động của phía Đức. Tuy nhiên, người Anh đã đọc được các bảng mã của đối phương, nên một lực lượng lớn các tàu chiến-tuần dương Anh dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Beatty đã ra khơi để đánh chặn. Cuộc tiếp xúc đầu tiên diễn ra lúc 07 giờ 20 phút<ref group=Note"Ghi chú">Thời gian nêu trong bài này thuộc giờ [[GMT]], trễ hơn một giờ so với đa số các công trình nghiên cứu của Đức, vốn thuộc về múi [[giờ Trung Âu]], một giờ sớm hơn. </ref> ngày [[24 tháng 1]], khi [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] Anh [[HMS Arethusa (1913)|''Arethusa'']] phát hiện tàu tuần dương hạng nhẹ Đức [[SMS Kolberg|''Kolberg'']]. Đến 07 giờ 35 phút, phía Đức nhìn thấy lực lượng của Beatty, và Hipper ra lệnh bẻ lái về phía Nam với tốc độ {{convert|20|kn}}, tin rằng đủ nhanh nếu như đối phương ở về phía Tây Bắc của ông là những thiết giáp hạm Anh, và ông luôn luôn có khả năng tăng lên tốc độ tối đa {{convert|23|kn}} của [[SMS Blücher|''Blücher'']] nếu như đó là các tàu chiến-tuần dương Anh.<ref>{{Harvnb|Massie|2004|p=376–84}}</ref>
 
Beatty ra lệnh cho các tàu chiến-tuần dương của mình mở hết tốc độ có thể để bắt kịp các tàu chiến Đức trước khi chúng chạy thoát. Những chiếc dẫn đầu, [[HMS Lion (1910)|''Lion'']], [[HMS Princess Royal (1911)|''Princess Royal'']] và ''Tiger'', đạt đến {{convert|27|kn}} khi truy đuổi, và ''Lion'' khai hỏa lúc 08 giờ 52 phút ở khoảng cách {{convert|20000|yd}}. Các tàu khác tiếp nối vài phút sau đó, nhưng do ảnh hưởng bởi khoảng cách quá xa và tầm nhìn bị giảm sút, chỉ có thể bắn trúng ''Blücher'' phát đầu tiên lúc 09 giờ 09 phút. Bản thân các tàu chiến-tuần dương Đức nổ súng lúc 09 giờ 11 phút ở khoảng cách {{convert|18000|yd}}, và tập trung hỏa lực vào chiếc ''Lion''. Đến 09 giờ 35 phút, Beatty ra lệnh "Đối đầu với tàu tương đương trong hàng chiến trận đối phương", nhưng Đại tá Pelly, tin rằng [[HMS Indomitable (1907)|''Indomitable'']] đã giao chiến cùng với ''Blücher'', nên đã bắn vào [[SMS Seydlitz|''Seydlitz'']] giống như chiếc ''Lion'' đã làm, để lại [[SMS Moltke|''Moltke'']] không bị kháng cự và vẫn có thể tiếp tục bắn vào ''Lion'' mà không gặp khó khăn.<ref>{{Harvnb|Tarrant|1999|p=35–36}}</ref>
Đến đây bắt đầu một quá trình được đặt tên là đợt "Chạy về phía Nam" khi Beatty đổi hướng sang Đông Đông Nam lúc 15 giờ 45 phút, song song với hướng đi của Hipper, giờ đây ở khoảng cách dưới {{convert|18000|yd}}. Phía Đức khai hỏa trước tiên lúc 15 giờ 48 phút, và được phía Anh đáp trả. Các con tàu Anh vẫn đang còn trong quá trình đổi hướng, chỉ có hai chiếc dẫn đầu ''Lion'' và ''Princess Royal'' ổn định được hướng đi khi các tàu Đức nổ súng. Hải đội Tàu chiến-Tuần dương 1 được bố trí đội hình bậc thang sang bên phải, với ''Tiger'' ở về phía đuôi và tận cùng ở phía Tây, gần nhất so với lực lượng Đức. Cũng giống như ''Queen Mary'', ''Tiger'' đã lỡ mất thứ tự phân công hỏa lực của Beatty, nhắm vào ''Moltke'' thay vì ''Seydlitz'' như Beatty đã dự định.<ref>{{Harvnb|Brooks|2005|p=236–241}}</ref> Hỏa lực của phía Đức khá chính xác ngay từ đầu, khi ''Tiger'' bị ''Moltke'' bắn trúng sáu phát chỉ trong vòng bảy phút đầu tiên; cho dù hai phát bắn trúng tạm thời làm vô hiệu hóa cả hai tháp pháo 'Q' và 'X', nó vẫn không chịu hư hại nào thực sự đáng kể.<ref name=C42>{{Harvnb|Campbell|1978|p=42}}</ref> Đến 15 giờ 54 phút, khoảng cách giữa hai bên được rút ngắn xuống còn {{convert|12900|yd}}, và Beatty ra lệnh bẻ lái 2 point (22,5°) sang mạn phải để gia tăng khoảng cách giữa hai bên lúc 15 giờ 57 phút.<ref>{{Harvnb|Tarrant|1999|p=83}}</ref>
 
Khoảng cách giữa hai bên lại dần dần gia tăng cho đến lúc khoảng cách giữa các con tàu Anh và Đức trở nên quá xa để có thể bắn chính xác, nên Beatty đổi hướng 4 point (45°) sang mạn trái để rút ngắn khoảng cách từ 16 giờ 12 phút đến 16 giờ 15 phút. Đến 16 giờ 25 phút, khoảng cách được rút ngắn xuống còn {{convert|14400|yd}}, và Beatty ra lệnh bẻ lái 2 point sang mạn phải để gia tăng khoảng cách một lần nữa. Vào khoảng thời gian này, ''Queen Mary'' bị bắn trúng nhiều lần liên tiếp và hầm đạn phía trước của nó nổ tung.<ref>{{Harvnb|Tarrant|1999|p=89–91}}</ref> Đang đi ngay phía sau nó với khoảng cách chỉ có {{convert|500|yd}}, ''Tiger'' buộc phải bẻ hết lái sang mạn trái để tránh va chạm với xác tàu đang đắm.<ref>{{Harvnb|Massie|2004|p=595}}</ref> Đến 16 giờ 30 phút, tàu tuần dương hạng nhẹ [[HMS Southampton (1912)|''Southampton'']], đi trinh sát phía trước các tàu chiến của Beatty, nhìn thấy các đơn vị của Hạm đội Biển khơi hướng lên phía Bắc với tốc độ tối đa. Ba phút sau, nó trông thấy cột ăn-ten của các thiết giáp hạm dưới quyền [[Phó Đô đốc]] [[Reinhard Scheer]], nhưng đã chần chừ không báo cáo cho đến năm phút sau. Beatty tiếp tục tiến về phía Nam thêm hai phút nữa để xác định báo cáo về đối phương trước khi ra lệnh cho lực lượng dưới quyền quay lên phía Bắc.<ref>{{Harvnb|Massie|2004|p=598–600}}</ref> Vào lúc này ''Tiger'' bị bắn trúng tổng cộng 17 lần, tất cả ngoại trừ một đều bởi ''Moltke'', nhưng nó vẫn còn khả năng chiến đấu.<ref>{{Harvnb|Tarrant|1999|p=97}}</ref>
 
Các tàu chiến-tuần dương Đức cũng quay mũi sang hướng Bắc để truy đuổi,<ref>{{Harvnb|Massie|2004|p=601}}</ref> nhưng các con tàu của Beatty duy trì tốc độ tối đa, dần dần vượt ra khỏi tầm bắn. Các tàu chiến-tuần dương Anh hướng lên phía Bắc, rồi Đông Bắc, tìm cách gặp gỡ thành phần chủ lực của [[Hạm đội Grand]], và đến 17 giờ 40 phút lại nổ súng vào đối thủ Đức. Ánh sáng ngược khi mặt trời lặn đã che mắt các pháo thủ Đức nên họ không thể xác định các con tàu Anh, và đổi sang hướng Đông Bắc lúc 17 giờ 47 phút.<ref>{{Harvnb|Tarrant|1999|p=109}}</ref> Beatty dần dần chuyển về hướng Đông để các con tàu của ông có thể bảo vệ Hạm đội Grand trong khi nó đang được bố trí thành đội hình chiến trận; nhưng ông đã tính toán sai thời gian việc cơ động của mình, buộc các đơn vị Anh dẫn đầu cơ động tách xa khỏi lực lượng Đức. Lúc 18 giờ 35 phút, Beatty đi theo sau Hải đội Tàu chiến-Tuần dương 3 khi chúng dẫn đầu Hạm đội Grand về hướng Đông Đông Nam, và tiếp tục đối đầu với các tàu chiến-tuần dương của Hipper về phía Tây Nam. Vài phút trước đó, Scheer đã ra lệnh một cú đổi hướng đồng loạt 180° sang mạn phải, và Beatty mất dấu đối phương trong làn sương mù.<ref>{{Harvnb|Tarrant|1999|p=130–138}}</ref> Lúc 18 giờ 44 phút, Beatty đổi hướng các con tàu của mình sang hướng Đông Nam, rồi sang Nam Đông Nam bốn phút sau đó, để tìm kiếm lực lượng của Hipper. Sau đó ông ra lệnh cho hai chiếc tàu còn lại của Hải đội Tàu chiến-Tuần dương 3 chiếm lấy vị trí phía sau ''New Zealand'', vốn đã giảm tốc độ xuống còn {{convert|18|kn}} và đổi hướng về phía Nam để ở gần Hạm đội Grand. Vào lúc này [[con quay la bàn]] của ''Lion'' bị hỏng, và nó cùng rất cả các tàu chiến-tuần dương theo sau đi hết một vòng tròn rộng trước khi bánh lái của nó được kiểm soát trở lại.<ref>{{Harvnb|Tarrant|1999|p=145}}</ref> Đến 18 giờ 55 phút, Scheer ra lệnh một cú đổi hướng 180° khác, đưa các con tàu Đức vào một hướng đi hội tụ để đối đầu với Hạm đội Grand. Tuy nhiên, phía Anh đã chuyển hướng về phía Nam, cho phép Hạm đội Grand [[cắt ngang chữ T]] lực lượng của Scheer và gây hư hại cho các tàu chiến Đức dẫn đầu. Scheer ra lệnh một cú đổi hướng 180° nữa lúc 19 giờ 13 phút, giải thoát Hạm đội Biển khơi khỏi cái bẫy mà sự cơ động của ông đã tạo ra.<ref>{{Harvnb|Tarrant|1999|p=149, 157}}</ref>
Phía Anh mất dấu các con tàu Đức cho đến khi [[HMS Castor (1915)|''Castor'']] phát hiện khói ở hướng Tây Tây Bắc lúc 20 giờ 05 phút, rồi giao chiến cùng với nhiều [[tàu phóng lôi]] Đức. Nghe thấy tiếng súng, Beatty ra lệnh cho các tàu dưới quyền quay mũi sang hướng Tây, và phát hiện các tàu chiến-tuần dương Đức chỉ cách có {{convert|8500|yd}}. ''Inflexible'' nổ súng lúc 20 giờ 20 phút, được nối tiếp hầu như ngay lập tức bởi các tàu chiến-tuần dương còn lại.<ref>{{Harvnb|Tarrant|1999|p=175}}</ref> Không lâu sau 20 giờ 30 phút, các [[thiết giáp hạm tiền-dreadnought]] thuộc Hải đội Chiến trận 2 dưới quyền Chuẩn Đô đốc Mauve bị phát hiện; chúng đấu pháo với các tàu chiến-tuần dương Anh chỉ trong một chốc trước khi quay mũi về phía Tây do tầm nhìn kém và hỏa lực của phía Anh tỏ ra chính xác hơn, rồi biến mất vào làn sương mù lúc khoảng 20 giờ 40 phút.<ref>{{Harvnb|Tarrant|1999|p=177–178}}</ref> Các tàu chiến-tuần dương của Beatty di chuyển theo hướng Nam Đông Nam, dẫn trước cả Hạm đội Grand lẫn Hạm đội Biển khơi, cho đến khi có mệnh lệnh đổi hướng quay về nhà lúc 02 giờ 55 phút rạng sáng ngày [[1 tháng 6]].<ref>{{Harvnb|Tarrant|1999|p=178, 224}}</ref>
[[Tập tin:HMS Tiger Jutland damage diagrams.jpg|thumb|left|400px|Một sơ đồ ban đầu, không thực sự tin cậy, trình bày vị trí các phát đạn pháo mà ''Tiger'' chịu đựng trong trận Jutland]]
''Tiger'' và các tàu chiến-tuần dương còn lại đi đến [[Xưởng tàu Rosyth]] ở [[Scotland]] và sáng ngày [[2 tháng 6]]. Nó được đưa vào ụ tàu ngay ngày hôm sau để sửa chữa, vốn diễn ra cho đến ngày [[1 tháng 7]], chiếc đầu tiên trong số các "Con mèo tráng lệ" được sửa chữa. ''Tiger'' bị bắn trúng tổng cộng 18 lần trong trận chiến, hầu hết là đạn pháo bắn từ ''Moltke''; nó bị tổn thất 24 người thiệt mạng và 46 người khác bị thương. Chiếc tàu chiến-tuần dương đã bắn 303 quả đạn pháo từ dàn pháo chính trong trận đánh, ghi được một phát bắn trúng ''Moltke'' và hai phát trên chiếc [[SMS von der Tann|''von der Tann'']]. Con tàu cũng bắn 136 quả đạn pháo 6 &nbsp;inch nhắm vào tàu tuần dương hạng nhẹ [[SMS Wiesbaden|''Wiesbaden'']] và các [[tàu khu trục]] Đức.<ref name=C42/>
{{clr}}
 
=== Các hoạt động tiếp theo ===
[[Tập tin:Tiger SP 000374.jpg|thumb|right| [[Thủy phi cơ]] [[Sopwith Camel]] sẵn sàng để được phóng từ tháp pháo 'Q']]
Sau khi công việc sửa chữa hoàn tất, ''Tiger'' phục vụ tạm thời như là soái hạm của Hải đội Tàu chiến-Tuần dương 1 trong khi ''Lion'' được sửa chữa.<ref name=b20>{{Harvnb|Burt|1986|p=220}}</ref> Trong thời gian đó, vào chiều tối ngày [[18 tháng 8]], Hạm đội Grand ra khơi do một thông điệp được [[Phòng 40]] giải mã cho biết Hạm đội Biển khơi Đức, thiếu mất Hải đội 2, sẽ rời cảng trong đêm đó. Mục tiêu của Đức là bắn phá [[Sunderland, Tyne và Wear|Sunderland]] vào ngày [[19 tháng 8]], được trinh sát rộng rãi bởi khí cầu và tàu ngầm. Hạm đội Grand lên đường với 29 thiết giáp hạm dreadnought và sáu tàu chiến-tuần dương.<ref group=Note"Ghi chú">Trong khi không có nguồn nào xác định rõ ràng ''Tiger'' nằm trong thành phần hạm đội vào lúc đó, trong số bảy tàu chiến-tuần dương đang hoạt động của Hải quân Hoàng gia, ''Indomitable'' đang được tái trang bị trong suốt tháng 8, là chiếc duy nhất không tham gia hoạt động. Xem Roberts, trang 122</ref> Trong suốt ngày [[19 tháng 8]], Jellicoe và Scheer nhận được những tin tức tình báo mâu thuẫn với nhau, vốn đưa đến hậu quả là trên đường đi đến điểm gặp gỡ tại Bắc Hải, Hạm đội Grand chuyển hướng lên phía Bắc do tin tưởng sai lầm là đang tiến vào một bãi mìn trước khi quay lại hướng Nam. Riêng Scheer lại bẻ lái về hướng Đông Nam để săn đuổi cái mà ông tin là một hải đội chiến trận Anh đơn độc được một khí cầu Đức phát hiện, nhưng thực ra chỉ là Lực lượng Harwich dưới quyền [[Thiếu tướng Hải quân]] [[Reginald Tyrwhitt]]. Nhận ra sai lầm, phía Đức đổi hướng quay trở về cảng nhà. Tiếp xúc duy nhất giữa hai phía là vào lúc chiều tối khi Tyrwhitt nhìn thấy Hạm đội Biển khơi, nhưng không thể đi đến một vị thế tấn công thuận tiện trước khi trời tối, nên đã tách ra khỏi trận chiến. Cả hai hạm đội Anh và Đức đều quay trở về nhà, phía Anh bị mất hai tàu tuần dương do các cuộc tấn công bằng tàu ngầm còn phía Đức có một thiết giáp hạm dreadnought bị hư hại bởi ngư lôi.<ref>{{Harvnb|Marder|1978|p=287–296}}</ref>
 
''Tiger'' trải qua một đợt tái trang bị kéo dài tại Rosyth từ ngày [[10 tháng 11]] năm [[1916]] đến [[29 tháng 1]] năm [[1917]],<ref name=r23/> khi lớp vỏ giáp sàn tàu và nóc tháp pháo được tăng cường, cùng có thêm các máy đo tầm xa bổ sung trên tháp chỉ huy và trên phía sau tháp pháo 'X'.<ref name=b19/> Con tàu có một giai đoạn bình yên cho phần thời gian còn lại của cuộc chiến tranh, tiến hành các cuộc tuần tra tại [[Bắc Hải]] trong khi [[Hạm đội Biển khơi Đức]] bị cấm không được liều lĩnh chịu đựng thêm thiệt hại nào khác. Nó đã hỗ trợ cho lực lượng hạng nhẹ Anh tham gia [[Trận Heligoland Bight thứ hai]] vào ngày [[17 tháng 11]] năm [[1917]], nhưng đã không lọt vào tầm bắn của bất kỳ lực lượng đối phương nào.<ref>{{Harvnb|Newbolt|1996|p=169}}</ref> Cùng năm đó, nó trải qua một đợt cải biến nhỏ khi một bệ phóng máy bay dành cho một [[thủy phi cơ]] [[Sopwith Camel]] được đặt trên tháp pháo 'Q', và một bệ đèn pha được bổ sung trên ống khói thứ ba. Nó còn trải qua một đợt nâng cấp khác sâu rộng hơn vào năm [[1918]], khi cột ăn-ten chính được chuyển sang phía trên, và một bệ quan sát thực tế hơn được thêm vào cột ăn-ten trước. Một số máy đó tầm xa cỡ ngắn được thay thế bằng kiểu dài hơn.<ref name=b19/> Hậu quả của sự thay đổi về kiểu dáng đã bị các biên tập viên của ''Jane's Fighting Ships'' ấn bản 1919 chê bai, cho rằng ''Tiger'' "từng là một con tàu kiểu dáng đẹp đáng chú ý cho đến khi cách sắp xếp ghê gớm được áp dụng vào năm 1918."<ref>{{cite book | title=Jane's Fighting Ships | url=http://www.pbenyon1.plus.com/Janes_1919/B_Ships/Tiger_64.html | year=1919 | publisher=Jane's | location=London | pages=64–65 | accessdate=21 September 2010}}</ref>
 
=== Phục vụ sau chiến tranh ===
''Tiger'' tiếp tục phục vụ cùng với Hải quân Hoàng gia sau khi đạt được thỏa thuận [[Đình chiến với Đức]]. Vào năm [[1919]], một bệ phóng máy bay được bổ sung trên nóc tháp pháo 'B'. Nó bị tai nạn va chạm với thiết giáp hạm [[HMS Royal Sovereign (05)|''Royal Sovereign'']] vào cuối năm [[1920]] khi nó được phân về [[Hạm đội Đại Tây Dương (Anh Quốc)|Hạm đội Đại Tây Dương]].<ref name=b20/> Nó sống sót qua đợt cắt giảm các tàu chiến chủ lực cũ do những giới hạn của [[Hiệp ước Hải quân Washington]], cho dù nó phải đưa về lực lượng dự bị vào ngày [[22 tháng 8]] năm [[1921]].<ref name=r123/> Con tàu được tái trang bị vào [[tháng 3]] năm [[1922]] với một máy đo tầm xa {{convert|25|ft|m|adj=on}} đặt trên tháp pháo 'X', cặp pháo phòng không 3 &nbsp;inch nguyên thủy được thay thế bằng bốn khẩu {{convert|4|in|adj=on}}, và bệ phóng máy bay trên tháp pháo 'Q' được tháo dỡ.<ref>{{Harvnb|Burt|1986|p=219–220}}</ref> Vào ngày [[14 tháng 2]] năm [[1924]], nó được cho tái hoạt động trở lại và trở thành một tàu huấn luyện đi biển, một vai trò mà nó phục vụ trong suốt những năm [[thập niên 1920|1920]]. Hoạt động đáng kể cuối cùng của nó là vào năm [[1929]], khi chiếc tàu chiến-tuần dương mới nhất của Hải quân Hoàng gia, chiếc [[HMS Hood (51)|''Hood'']] bất hạnh, vào ụ tàu cho một đợt tái trang bị. Trong khi ''Hood'' phải tạm ngưng hoạt động, ''Tiger'' quay trở lại hoạt động thường trực để duy trì đủ một lực lượng ba con tàu của [[Hải đội Tàu chiến-Tuần dương Anh Quốc|Hải đội Tàu chiến-Tuần dương]] (thường bao gồm ''Hood'' và hai chiếc nhỏ hơn [[HMS Renown (1916)|''Renown'']] và [[HMS Repulse (1916)|''Repulse'']]. Cho dù vào đầu những năm [[thập niên 1930|1930]], ''Tiger'' vẫn ở trong một tình trạng khá tốt và không phải là một con tàu quá lạc hậu, số phận của nó bị kết thúc do những thỏa thuận của [[Hiệp ước Hải quân London]] năm [[1930]], khi ''Tiger'' bị [[Bộ Hải quân Anh]] hy sinh như một phần của việc cắt giảm chung hạm đội thiết giáp hạm trên toàn thế giới. Dưới quyền chỉ huy của Đại tá [[Kenneth Dewar]] từ năm [[1928]] đến năm [[1929]], nó tiếp tục phục vụ cùng hạm đội với vị chỉ huy cuối cùng là [[Arthur Bedford]] cho đến khi ''Hood'' hoàn tất việc tái trang bị vào đầu năm [[1931]], lúc mà ''Tiger'' được rút khỏi hoạt động theo những điều khoản của Hiệp ước.<ref>{{Harvnb|Burt|1993|p=23, 51}}</ref>
 
''Tiger'' từ giã Hạm đội Đại Tây Dương vào ngày [[30 tháng 3]] năm [[1931]] tại [[Căn cứ Hải quân Hoàng gia Devonport|Devonport]].<ref>{{Harvnb|Parkes|1990|p=557}}</ref> Nó ngừng hoạt động vào ngày [[15 tháng 5]] năm [[1931]] tại Rosyth trước khi được bán cho hãng T. W. Ward tại [[Inverkeithing]] để tháo dỡ vào [[tháng 2]] năm [[1932]].<ref name=r123/> Nó là chiếc tàu chiến chủ lực đốt than cuối cùng của Hải quân Hoàng gia.<ref>''The Singapore Free Press and Mercantile Advertiser'' dated 20 April 1931, [http://newspapers.nl.sg/Digitised/Article/singfreepressb19310420.2.129.7.aspx p. 17]: "A programme is now approved for the withdrawal from service of H.M.S. Tiger, Captain A. E. F. Bedford, the last coal-burning capital ship in the Royal Navy. On her return to Devonport on March 31 from the Atlantic Fleet spring cruise, arrangements were to be made to de-store and pay off..."</ref>
== Tham khảo ==
=== Ghi chú ===
{{Reflist|group=Note"Ghi chú"}}
=== Chú thích ===
{{Reflist|2}}
* [http://www.maritimequest.com/warship_directory/great_britain/battleships/tiger/hms_tiger.htm Maritimequest HMS Tiger Photo Gallery]
 
{{DEFAULTSORT:Tiger (1913)}}
{{Lớp tàu chiến Anh thế chiến 1}}
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Anh}}
 
{{Link GA|en}}
 
{{DEFAULTSORT:Tiger (1913)}}
[[Thể loại:Lớp tàu chiến-tuần dương]]
[[Thể loại:Tàu chiến-tuần dương của Hải quân Anh]]
[[Thể loại:Tàu chiến-tuần dương trong Thế Chiến I]]
 
{{Link GA|en}}
 
[[cs:HMS Tiger (1913)]]
72.718

lần sửa đổi