Khác biệt giữa các bản “SMS Deutschland (1904)”

n
clean up, replaced: group=Note → group="Ghi chú" (4) using AWB
n (r2.7.1) (robot Thêm: tr:SMS Deutschland (1904))
n (clean up, replaced: group=Note → group="Ghi chú" (4) using AWB)
''Deutschland'' dài {{convert|127,6|m|ftin|abbr=on}}, [[mạn thuyền]] rộng {{convert|22,2|m|ftin|abbr=on}} và độ sâu của [[mớn nước]] là {{convert|8,21|m|ftin|abbr=on}}. Nó có [[trọng lượng choán nước]] {{convert|14218|t|LT|0|sp=us}} khi đầy tải, và được trang bị [[động cơ ba buồng bành trướng đặt dọc]] đốt [[than]] với công suất {{convert|16000|ihp|lk=on|0}}, cho phép đạt được tốc độ tối đa {{convert|18|kn|abbr=on}}. Với tốc độ đường trường {{convert|10|kn|abbr=on}} và trữ lượng nhiên liệu {{convert|1540|t|sp=us}} than, nó có thể di chuyển được {{convert|4850|nmi|sp=us}}.<ref name=S5/>
 
Dàn pháo chính của ''Deutschland'' bao gồm bốn khẩu [[hải pháo 28 cm SK L/40|pháo {{convert|28|cm|in|abbr=on}} SK L/40]]<ref group=Note"Ghi chú">Trong thuật ngữ pháo của Hải quân Đế quốc Đức, "SK" (Schnelladekanone) cho biết là kiểu pháo nạp nhanh, trong khi L/40 cho biết chiều dài của nòng pháo. Trong trường hợp này, pháo L/40 có ý nghĩa 40 caliber, tức là nòng pháo có chiều dài gấp 40 lần so với đường kính trong.</ref> bắn nhanh bố trí trên hai [[tháp pháo]] nòng đôi, một phía trước và một phía sau của cấu trúc thượng tầng. Nó cũng được trang bị mười bốn khẩu pháo hạng hai {{convert|17|cm|in|abbr=on}} gắn trên các [[tháp pháo ụ]], 20 khẩu pháo {{convert|8,8|cm|in|abbr=on}} bắn nhanh điều khiển bằng tay trên các bệ nòng đơn, cùng sáu ống phóng [[ngư lôi]] {{convert|45|cm|in|abbr=on|2}} ngầm dưới lườn tàu.<ref>{{harvnb|Staff|2010|p=6}}</ref>
 
== Lịch sử hoạt động ==
Đô đốc [[Reinhard Scheer]], Tư lệnh hạm đội Đức, lập tức vạch kế hoạch cho một chiến dịch khác ra Bắc Hải, nhưng việc ''Seydlitz'' bị hư hại đã trì hoãn chiến dịch cho đến cuối [[tháng 5]].<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=58}}</ref> ''Deutschland'' là chiếc dẫn đầu trong Đội III của Hải đội Thiết giáp II, và là soái hạm của Chuẩn Đô đốc Mauve, Tư lệnh hải đội. Đơn vị này với những thiết giáp hạm yếu nhất tham gia trận chiến, được đặt ở phía cuối của hàng chiến trận Đức.<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=286}}</ref> Trong đợt "Tiến ra Bắc Hải", Đô đốc Scheer ra lệnh cho hạm đội truy đuổi hết tốc độ các thiết giáp hạm của Hải đội Thiết giáp V Anh Quốc đang rút lui. ''Deutschland'' và các tàu chị em chậm hơn đáng kể so với những chiếc dreadnought và nhanh chóng bị tụt lại phía sau.<ref>{{harvnb|London|2000|p=73}}</ref> Đến 19 giờ 30 phút, [[Hạm đội Grand Anh Quốc|Hạm đội Grand]] xuất hiện, và đối đầu với lực lượng của Đô đốc Scheer với một ưu thế áp đảo.<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=150}}</ref> Tình thế của hạm đội Đức bị ảnh hưởng nặng bởi sự hiện diện của những chiếc trong lớp ''Deutschland'' chậm chạp; nếu Scheer ra lệnh quay trở về Đức ngay lập tức, có thể ông sẽ phải hy sinh những con tàu chậm hơn để có thể rút lui thành công.<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=150-152}}</ref>
 
Đô đốc Scheer quyết định quay ngược hướng đi của hạm đội bằng một cú “đổi hướng chiến trận” (Gefechtskehrtwendung), một cách cơ động đòi hỏi mọi đơn vị trong hàng chiến trận Đức phải quay mũi 180° cùngCùng một lúc.<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=152-153}}</ref><ref group=Note"Ghi chú">''Gefechtskehrtwendung'' được dịch sát là "quay đàng sau trận chiến" (battle about-turn), là một cú bẻ lái 16-point (180°) của toàn bộ [[Hạm đội Biển khơi]]. Nó chưa bao giờ được thực hiện dưới hỏa lực của đối phương cho đến Trận Jutland. Xem: Tarrant, trang 153–154</ref> Do hậu quả của việc bị tụt lại phía sau, những chiếc trong Hải đội Thiết giáp II không thể đi theo hướng đi mới sau khi đổi hướng.<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=154}}</ref> Vì vậy, ''Deutschland'' và năm chiếc khác của hải đội ở bên phía rút lui của hàng chiến trận Đức. Đô đốc Mauve dự định di chuyển các con tàu của ông về phía cuối hàng chiến trận, phía sau những chiếc dreadnought của Hải đội Thiết giáp III, nhưng đã không thực hiện khi ông nhận ra việc di chuyển như vật sẽ ảnh hưởng đến sự cơ động các tàu chiến-tuần dương của Đô đốc [[Franz von Hipper]]. Thay vào đó, ông tìm cách đặt các con tàu của mình phía đầu hàng tàu chiến.<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=155}}</ref>
 
Sau đó trong ngày thứ nhất của trận chiến, các tàu chiến-tuần dương đã hư hại thuộc Hải đội Tuần tiễu I của Đô đốc Hipper phải chịu đựng áp lực nặng nề do bị các đối thủ Anh truy đuổi. ''Deutschland'' và các con tàu mang biệt danh "tàu-năm-phút" đã đến để trợ giúp, đi vào giữa hai hải đội tàu chiến-tuần dương đang đối đầu.<ref name="Tarrant195">{{harvnb|Tarrant|1995|p=195}}</ref><ref group=Note"Ghi chú">Những con tàu được gọi là "tàu-năm-phút" vì đó là khoảng thời gian mà người ta hy vọng chúng sống sót nếu phải đối đầu với những chiếc dreadnought. Xem: Tarrant, trang 62</ref> Tầm nhìn kém khiến cho cuộc đụng độ sau đó diễn ra ngắn ngủi. ''Deutschland'' chỉ bắn được một quả đạn pháo 28 cm trong giai đoạn này.<ref name="Tarrant195"/> Đô đốc Mauve quyết định không nên đối đầu với một lực lượng tàu chiến-tuần dương mạnh hơn nhiều, nên ra lệnh chuyển hướng 90° sang mạn phải.<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=195-196}}</ref>
 
Cuối ngày hôm đó, hạm đội chuẩn bị cho chuyến đi đêm quay trở về Đức; ''Deutschland'', ''Pommern'' và ''Hannover'' được xếp phía sau [[SMS König|SMS ''König'']] và các thiết giáp hạm dreadnought khác của Hải đội Thiết giáp III về phía cuối của hàng chiến trận Đức.<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=241}}</ref> Các [[tàu khu trục]] Anh tổ chức một loạt các cuộc tấn công vào hạm đội, một số đã nhắm vào ''Deutschland''. Trong cuộc đụng độ, ''Deutschland'' và ''König'' quay mũi khỏi các tàu khu trục tấn công, nhưng không thể nhận định mục tiêu rõ ràng để có thể đối đầu hiệu quả.<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=242}}</ref> Không lâu sau đó, ''Pommern'' trúng phải ít nhất một quả ngư lôi và nổ tung. Mảnh vỡ của con tàu rải như mưa chung quanh ''Deutschland''.<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=243}}</ref> Bất chấp như thế, Hạm đội Biển khơi băng xuyên qua lực lượng khu trục Anh và đến được [[Horns Reef]] lúc 04 giờ 00 ngày [[1 tháng 6]].<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=246-247}}</ref> Hạm đội Đức về đến Wilhelmshaven vài giờ sau đó, nơi những chiếc dreadnought không bị hư hại thuộc các lớp [[Nassau (lớp thiết giáp hạm)|''Nassau'']] và [[Helgoland (lớp thiết giáp hạm)|''Helgoland'']] chiếm lấy các vị trí phòng ngự.<ref>{{harvnb|Tarrant|1995|p=263}}</ref>
==Tham khảo==
=== Ghi chú ===
{{Reflist|group=Note"Ghi chú"}}
 
=== Chú thích===
* {{Cite book | last=Tarrant | first=V. E. | title=Jutland: The German Perspective | year=1995 | location=London | publisher=Cassell Military Paperbacks | isbn=0304358487}}
 
{{Lớp thiết giáp hạm Deutschland}}
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Đức}}
 
{{link GA|en}}
 
{{DEFAULTSORT:Deutschland}}
{{Lớp thiết giáp hạm Deutschland}}
{{các chủ đề|Quân sự|Hàng hải|Đức}}
 
[[Thể loại:Lớp thiết giáp hạm Deutschland]]
[[Thể loại:Thiết giáp hạm của Hải quân Đức]]
[[Thể loại:Thiết giáp hạm trong Thế Chiến I]]
 
{{link GA|en}}
 
[[de:SMS Deutschland (1904)]]
72.718

lần sửa đổi