Khác biệt giữa các bản “La Galissonnière (lớp tàu tuần dương)”

n
clean up, replaced: group=Note → group="Ghi chú" (4) using AWB
n (clean up, replaced: group=Note → group="Ghi chú" (4) using AWB)
 
== Bối cảnh ==
Sau [[Chiến tranh Thế giới thứ nhất]], [[Hải quân Pháp]] còn lại một số ít [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] đã cũ, được chế tạo vào cuối [[thế kỷ 19]]-đầu [[thế kỷ 20]], và đã hao mòn qua chiến tranh.<ref>{{Harvnb|Labayle-Couhat|1974|p=64–77}}</ref> Họ nhận được thêm chiếc tàu tuần dương nhỏ [[SMS Novara (1913)|''Novara'']] của [[Áo-Hung]] và bốn tàu tuần dương hạng nhẹ của [[Đức]] là [[SMS Kolberg|''Kolberg'']], [[SMS Stralsund (1911)|''Stralsund'']], [[SMS Regensburg|''Regensburg'']] và [[SMS Königsberg (1915)|''Königsberg'']] như những [[chiến lợi phẩm]] bồi thường cho những thiệt hại trong chiến tranh. Chúng được đổi tên theo những thị trấn trong vùng Alsace-Lorraine, tương ứng thành ''Thionville'', ''Colmar'', ''Mulhouse'', ''Strasbourg'' và ''Metz''. Những chiếc này được trang bị chín khẩu pháo 100 &nbsp;mm cho ''Thionville'', và từ sáu đến tám khẩu pháo 150 &nbsp;mm cho những chiếc kia, tải trọng 4.000 tấn cho ''Thionville'' và 5.000 đến 7.000 tấn cho những chiếc kia, và tốc độ đạt được 26-27 knot. Chúng được rút khỏi hoạt động thường trực của hạm đội vào cuối những năm [[thập niên 1920|1920]] hay đầu những năm [[thập niên 1930|1930]].<ref>{{Harvnb|Moulin|2007|p=54–62}}</ref>
 
Sau khi cân nhắc đến việc chế tạo [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] tải trọng 5.200 tấn và trang bị pháo 5,5 &nbsp;inch (138,6 &nbsp;mm), có khả năng đạt vận tốc 36 knot vào năm [[1920]]; ngân sách đã được thông qua trong tài khóa 1922 để đóng ba chiếc thuộc [[Duguay-Trouin (lớp tàu tuần dương)|lớp tàu tuần dương ''Duguay-Trouin'']], còn được gọi là những "tàu tuần dương 8.000 tấn", được hạ thủy vào những năm [[1923]]-[[1924]]. Chúng có bốn tháp pháo nòng đôi và lựa chọn cỡ nòng pháo 155 &nbsp;mm (6,1 &nbsp;inch), vốn được Lục quân Pháp sử dụng thường xuyên với ý định thuận tiện hơn trong việc cung cấp đạn dược. Với hầu như không có vỏ giáp bảo vệ, chúng đạt được tốc độ 34 knot.<ref>{{Harvnb|Le Masson|1969|p=6, 9, 89–90}}</ref>
 
Sau những thiệt hại trong chiến tranh, họ vẫn còn lại các [[tàu tuần dương bọc thép]] được chế tạo trong suốt những năm [[thập niên 1900|1900]], có từ bốn đến sáu ống khói, vốn đã lạc hậu ngay từ khi đưa ra hoạt động. Với dàn vũ khí bao gồm hai tháp pháo nòng đôi 194 &nbsp;mm cùng một số tháp pháo nòng đơn và tháp pháo ụ với cỡ thông dụng nhất là 167,4 &nbsp;mm,<ref group=Note"Ghi chú">Chỉ có những chiếc [[Edgar Quinet (tàu tuần dương Pháp)|''Edgar Quinet'']] và [[Waldeck-Roussseau (tàu tuần dương Pháp)|''Waldeck-Roussseau'']] thuộc lớp [[Edgar Quinet (lớp tàu tuần dương)|''Edgar Quinet'']] mới có được dàn hỏa lực gồm mười bốn khẩu 194 mm</ref> tốc độ {{convert|23|kn|km/h|abbr=on}}, đai giáp dày từ 90 đến 170 &nbsp;mm, và một trọng lượng choán nước 12.000 đến 14.000 tấn, chúng bị vượt trội hơn về hỏa lực so với các tàu đương thời của Anh hay Đức.<ref>{{Harvnb|Labayle-Couhat|1974|p=58–63}}</ref>
Vào đầu những năm [[thập niên 1910|1910]], có một xu hướng gia tăng tải trọng và vũ khí trên những chiếc tàu tuần dương bọc thép, vốn đã đưa đến [[Minotaur (lớp tàu tuần dương) (1906)|lớp tàu tuần dương ''Minotaur'']] của Anh cùng [[Scharnhorst (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Scharnhorst'']] và chiếc [[SMS Blücher|SMS ''Blücher'']] của Đức, có từ tám đến mười hai pháo 210 &nbsp;mm trên những "tàu tuần dương lớn" của Đức, hoặc bốn pháo [[Hải pháo BL 9,2 inch Mk XI|{{convert|9,2|in|mm|abbr=on}}]] và mười pháo [[Hải pháo BL 7,5 inch Mk II – V|{{convert|7,5|in|mm|abbr=on}}]] trên những chiếc của Anh. Tuy nhiên, lần lượt ''Scharnhorst'' và ''Gneisenau'' đã bị đánh chìm trong [[Trận chiến quần đảo Falkland]]<ref>{{Harvnb|Bennett|1974|p=97–120}}</ref> vào [[tháng 12]] năm [[1914]] khi đối đầu với các tàu chiến-tuần dương [[HMS Invincible (1907)|HMS ''Invincible'']] và [[HMS Inflexible (1907)|HMS ''Inflexible'']], ''Blücher'' khi đụng độ với những chiếc [[Lion (lớp tàu chiến-tuần dương)|lớp ''Lion'']] trong [[Trận Dogger Bank (1915)|Trận Dogger Bank]] vào [[tháng 1]] năm [[1915]],<ref>{{Harvnb|Bennett|1974|p=142–145}}</ref> còn [[HMS Defence (1907)|HMS ''Defence'']] bị mất bởi hỏa lực của [[SMS Lützow|SMS ''Lützow'']] trong [[Trận Jutland]] vào ngày [[31 tháng 5]] năm [[1916]].<ref>{{Harvnb|Bennett|1974|p=181}}</ref>
 
[[Hiệp ước Hải quân Washington]] năm [[1922]] đã đưa đến việc loại bỏ tàu tuần dương bọc thép khi bao gồm điều khoản giới hạn tải trọng tàu tuần dương ở mức 10.000 tấn và cỡ pháo của chúng không vượt quá 203 &nbsp;mm. Những giới hạn này được chọn lựa nhằm cho phép tiếp tục chế tạo tàu chiến mà thiết kế phù hợp với nhu cầu và nghiên cứu của hải quân các nước Mỹ và Nhật, cũng như cho phép Hải quân Hoàng gia Anh không phải tháo dỡ [[Hawkins (lớp tàu tuần dương)|lớp tàu tuần dương ''Hawkins'']],<ref>{{Harvnb|Preston|1981|p=68–70}}</ref><ref name="Lenton 1973 5">{{Harvnb|Lenton|1973|p=5}}</ref> có tải trọng 9.550-9.860 tấn, bảy khẩu pháo [[Hải pháo BL 7,5 inch Mk VI|7,5 inch (190,5 mm)]], được hoàn tất từ năm [[1919]] đến năm [[1925]].<ref>{{Harvnb|Lenton|1973|p=35–40}}</ref>
 
Kinh nghiệm trong chiến tranh đã chứng tỏ tầm quan trọng trong việc bảo vệ an toàn các tuyến đường thương mại hàng hải chống lại sự cướp phá. Cho đến năm [[1930]], tất cả các bên tham gia Hiệp ước Hải quân Washington hầu như chỉ chế tạo các [[tàu tuần dương hạng nặng]]: Anh và Mỹ mỗi nước 15 chiếc, Nhật Bản 12 chiếc, và 7 chiếc mỗi nước cho Pháp và Ý. Các "tàu tuần dương [[Hiệp ước Hải quân Washington|hiệp ước]]" của Anh,<ref>{{Harvnb|Lenton|1973|p=50–71}}</ref> Pháp<ref>{{Harvnb|Le Masson|1969|p=91–99}}</ref> và Ý mang tám khẩu pháo 203 &nbsp;mm trên bốn tháp pháo nòng đôi, nhưng lên đến chín hoặc mười khẩu pháo đối với những chiếc của Mỹ<ref>{{Harvnb|Lenton|1968|p=51–62}}</ref> hay Nhật Bản.<ref>{{Harvnb|Watts|1971|p=84, 93, 99–101}}</ref> Chúng có tốc độ từ 30 đến 35 knot và một lớp vỏ giáp rất mỏng trên những chiếc được chế tạo đầu tiên, rồi chuyển sang một sự bảo vệ tốt hơn với tốc độ giảm đi đôi chút đối với các lớp tiếp theo. Trên chiếc tàu tuần dương hạng nặng đầu tiên được Hải quân Pháp chế tạo theo tiêu chuẩn "hiệp ước", chiếc [[Duquesne (tàu tuần dương Pháp)|''Duquesne'']], trọng lượng của vỏ giáp là 430 tấn, và tốc độ tối đa mà nó đạt được khi chạy thử máy là 35,3 knot với công suất 126.919 mã lực. Đến chiếc tàu tuần dương cuối cùng, chiếc [[Algérie (tàu tuần dương Pháp)|''Algérie'']], trọng lượng của vỏ giáp là 2.657 tấn, tốc độ tối đa 33,2 knot và công suất 93.230 mã lực.<ref>{{Harvnb|Le Masson|1969|p=91, 99}}</ref>
 
Bị chi phối bởi những điều khoản hạn chế tái vũ trang theo [[Hiệp ước Versaille]], nhưng Đức lại không bị ràng buộc bởi những điều khoản của [[Hiệp ước Hải quân Washington]], và từ năm [[1926]] đến năm [[1928]], Hải quân Đức đã đặt lườn ba tàu tuần dương [[K (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Karlsruhe'']] với trọng lượng choán nước 6.650 tấn, trang bị ba tháp pháo [[Hải pháo SK 15 cm C/25|{{convert|150|mm|in|abbr=on}}]] ba nòng với tốc độ 30-32 knot,<ref>{{Harvnb|Lenton|1966|p=59}}</ref> rồi đến năm [[1929]] là một kiểu cải tiến, chiếc [[Leipzig (tàu tuần dương Đức)|''Leipzig'']], với một [[động cơ diesel]] mạnh hơn và đai giáp được mở rộng với một trọng lượng choán nước hầu như tương đương (6.710 tấn).<ref>{{Harvnb|Lenton|1966|p=63}}</ref>
 
Hải quân Anh xem những tàu tuần dương theo giới hạn "hiệp ước" là quá lớn so với nhu cầu của họ, nên vào năm [[1927]] đã bắt đầu chế tạo một kiểu tàu tuần dương mang pháo 8 &nbsp;inch hơi nhỏ hơn, [[York (lớp tàu tuần dương)|lớp tàu tuần dương ''York'']], chỉ với sáu khẩu pháo 8 &nbsp;inch.<ref>{{Harvnb|Lenton|1973|p=72–75}}</ref> Khi [[Hiệp ước Hải quân London|Hội nghị Hải quân London]] năm [[1930]] vừa khai mạc, Anh Quốc thông báo việc hủy bỏ kế hoạch lớp tàu tuần dương mang pháo 8 &nbsp;inch tiếp theo, trong khi chiếc đầu tiên của lớp tiếp theo được đóng có tải trọng 6.500 tấn và mang tám khẩu pháo 6 &nbsp;inch, đủ khả năng để đối đầu với ''Leipzig''; đó chính là [[Leander (lớp tàu tuần dương) (1931)|lớp ''Leander'']].<ref>{{Harvnb|Lenton|1973|p=76–85}}</ref>
 
[[Hiệp ước Hải quân London]] đã đưa ra sự phân biệt giữa tàu tuần dương Kiểu A (thường được gọi là "tàu tuần dương hạng nặng"), với pháo có cỡ nòng trên {{convert|6,1|in|mm|abbr=on}} (như dàn pháo chính của [[Duguay-Trouin (lớp tàu tuần dương)|lớp tàu tuần dương ''Duguay Trouin'']]) và cho đến {{convert|8|in|mm|abbr=on}}, và tàu tuần dương Kiểu B (thường được gọi là "tàu tuần dương hạng nhẹ") với pháo cỡ 6,1 &nbsp;inch hay nhỏ hơn. Nó đặt ra giới hạn số lượng tàu tuần dương Kiểu A cho mỗi nước tham gia hiệp ước bằng với số tàu đang hiện hữu, và chỉ cho phép thay thê chúng sau hai mươi năm kể từ lúc hoàn thành.<ref>{{Harvnb| name="Lenton| 1973|p= 5}}<"/ref>
 
Vào năm [[1926]], Pháp bắt đầu đóng các lớp [[tàu khu trục]] mới [[Chacal (lớp tàu khu trục)|''Chacal'']], [[Guépard (lớp tàu khu trục)|''Guépard'']] và [[Aigle (lớp tàu khu trục)|''Aigle'']], vốn vượt trội về tải trọng và hỏa lực so với các tàu khu trục đương thời. Để đối phó với mối đe dọa này, Ý quyết định đóng một lớp tàu tuần dương mới có kích cỡ trung gian giữa các lớp tàu khu trục mới của Pháp và tàu tuần dương vào thời đó. Bốn chiếc thuộc [[Giussano (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Giussano'']] (lớp phụ đầu tiên của [[Condottieri (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Condottieri'']]) được đặt lườn vào năm [[1928]] và hoàn tất vào các năm [[1931]]-[[1932]], tuân thủ theo những giới hạn mới của [[Hiệp ước Hải quân London]] vừa được ký kết. Với trọng lượng choán nước khoảng 5.200 tấn, chúng được trang bị tám khẩu pháo 152 &nbsp;mm trên bốn tháp pháo nòng đôi, và có thể duy trì một tốc độ khá ấn tượng 37 knot, nhưng với một vỏ giáp không đáng kể và tầm hoạt động ngắn.<ref>{{Harvnb|Lenton|1973|p=77}}</ref>
Một tàu tuần dương Pháp mới được đặt hàng vào năm [[1926]] và hạ thủy vào năm [[1930]], được thiết kế đặc biệt như một tàu huấn luyện cho học viên sĩ quan. [[Jeanne d'Arc (tàu tuần dương Pháp) (1930)|''Jeanne d'Arc'']] cũng có cùng kiểu pháo 6,1 &nbsp;inch trên những tháp pháo nòng đôi như trên những chiếc lớp ''Duguay Trouin''.<ref>{{Harvnb|Le Masson|1969|p=98}}</ref> Nhưng sau khi Hiệp ước Hải quân London có hiệu lực, một tàu tuần dương mới, [[Émile Bertin (tàu tuần dương Pháp)|''Émile Bertin'']], được thiết kế để hoạt động như cả một tàu rải mìn lẫn soái hạm của chi hạm đội khu trục. Nó được trang bị một dàn pháo chính hoàn toàn mới cả về cỡ nòng pháo lẫn sự sắp xếp, chín khẩu {{convert|6|in|mm|abbr=on}} trên ba tháp pháo ba nòng, là lần đầu tiên đối với Hải quân Pháp; và ba khẩu đội 90 &nbsp;mm nòng đôi cho dàn hỏa lực phòng không. Đạt đến 39,66 knot khi chạy thử máy với hệ thống động lực có công suất 137.908 mã lực, nó là chiếc tàu tuần dương Pháp nhanh nhất từng được chế tạo.<ref>{{Harvnb|Le Masson|1969|p=102}}</ref>
 
Tháp pháo ba nòng là một điều bất thường đối với Hải quân Pháp, vốn ưa chuộng tháp pháo nòng đôi trên các thiết giáp hạm và các tàu tuần dương ban đầu, hoặc kiểu tháp pháo bốn nòng. Vào năm [[1910]], Trưởng ban Chế tạo Hải quân Pháp đã thiết kế [[Normandie (lớp thiết giáp hạm)|lớp thiết giáp hạm ''Normandie'']] với ba tháp pháo bốn nòng,<ref>{{Harvnb|Labayle Couhat|1974|p=37–38}}</ref> và tháp pháo bốn nòng cũng được sử dụng rộng rãi cho dàn pháo chính lẫn pháo hạng hai đa dụng của lớp thiết giáp hạm nhanh [[Dunkerque (lớp thiết giáp hạm)|''Dunkerque'']].<ref>{{Harvnb|Le Masson|1969|p=69–72}}</ref> Tháp pháo ba nòng vốn thông dụng trên các thiết giáp hạm của Ý một cách liên tục kể từ chiếc dreadnought đầu tiên được Ý chế tạo [[Dante Alighieri (thiết giáp hạm Ý)|''Dante Alighieri'']],<ref>{{Harvnb|Breyer|1973|p=373–380}}</ref> cũng như đối với Nga,<ref>{{Harvnb|Meister|1972|p=23–28}}</ref> Đế quốc Áo-Hung,<ref>{{Harvnb|Breyer|1973|p=409–411}}</ref> Hải quân Hoa Kỳ (kể từ [[Nevada (lớp thiết giáp hạm)|lớp ''Nevada'']] cho đến [[Tennessee (lớp thiết giáp hạm)|lớp ''Tennessee'']],<ref>{{Harvnb|Lenton|1968|p=14–25}}</ref> và ngay cả với Hải quân Hoàng gia Anh với [[Nelson (lớp thiết giáp hạm)|lớp ''Nelson'']].<ref>{{Harvnb|Lenton|1972|p=46–50}}</ref> Đối với tàu tuần dương, tháp pháo ba nòng được sử dụng trên mọi lớp [[tàu tuần dương hạng nặng]] sau [[Hiệp ước Hải quân Washington|Hiệp ước Washington]]; trên các tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Đức và trên [[Deutschland (lớp tàu tuần dương)|lớp "thiết giáp hạm bỏ túi" ''Deutschland'']].<ref>{{Harvnb|Lenton|1966|p=34–38}}</ref>
Đây chính là căn bản của vũ khí trang bị cho [[Émile Bertin (tàu tuần dương Pháp)|''Émile Bertin'']] và sự bảo vệ cùng hệ thống động lực của chiếc [[Algérie (tàu tuần dương Pháp)|''Algérie'']] vốn đã đưa đến thiết kế chiếc dẫn đầu cho lớp ''La Galissonnière'', được hạ thủy vào [[tháng 11]] năm [[1933]].<ref>{{Harvnb|Le Masson|1969|p=20, 102–104}}</ref>
 
Hải quân Đế quốc Nhật Bản, cùng với đối thủ chính của họ tại [[Thái Bình Dương]] là Hải quân Hoa Kỳ, đều cùng quan tâm đến tàu tuần dương lớn, bất kể chúng được xếp loại là "hạng nặng" hay "hạng nhẹ". Nên trong Chương trình Chế tạo 1931, Nhật Bản đặt hàng chiếc đầu tiên của một lớp tàu tuần dương hạng nhẹ mới, [[Mogami (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Mogami'']].<ref>{{Harvnb|Watts|1971|p=99–101}}</ref> Với mười lăm khẩu pháo 150 &nbsp;mm trên năm tháp pháo ba nòng và một tốc độ 37 knot, nó được công bố với một trọng lượng choán nước giả mạo chỉ có 8.500 tấn. Hải quân Mỹ đối phó lại bằng [[Brooklyn (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Brooklyn'']]<ref>{{Harvnb|Lenton|1968|p=78}}</ref> với mười lăm khẩu pháo 152 &nbsp;mm, tốc độ 32,5 knot, nhưng với một trọng lượng choán nước chính xác hơn là 9.700 tấn. Những chiếc đầu tiên của lớp này được hạ thủy vào những năm [[1937]]-[[1938]]. Hải quân Hoàng gia Anh cũng đặt lườn một lớp bốn tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc [[Arethusa (lớp tàu tuần dương) (1934)|lớp ''Arethusa'']],<ref>{{Harvnb|Lenton|1973|p=90–94}}</ref> nhỏ hơn so với [[Leander (lớp tàu tuần dương) (1931)|lớp ''Leander'']] khi chỉ có sáu khẩu pháo 6 &nbsp;inch (152 &nbsp;mm). Chúng được hạ thủy vào giữa những năm [[1934]]-[[1936]]. Phản ứng lại việc chế tạo các tàu tuần dương lớn của Nhật và Mỹ, Anh Quốc đã hủy bỏ việc đóng một số chiếc thuộc các lớp ''Leander'' và ''Arethusa''. Hai chiếc tàu tuần dương lớn đầu tiên của Anh, sau những bản vẽ sơ thảo được đặt tên là lớp ''Minotaur'', cuối cùng trở thành [[Town (lớp tàu tuần dương) (1936)|lớp ''Town'']]<ref>{{Harvnb|Lenton|1973|p=95–107}}</ref> và được hạ thủy vào năm [[1936]]. Chúng được trang bị mười hai khẩu pháo 6 &nbsp;inch (152 &nbsp;mm) trên bốn tháp pháo ba nòng cùng các thiết bị phóng máy bay giữa tàu, có tốc độ 32 knot và suýt soát với ngưỡng giới hạn 10.000 tấn trọng lượng choán nước.
 
Ba chiếc ''De Grasse'', ''Guichen'' và ''Chateaurenault'' được chấp thuận chế tạo không lâu trước chiến tranh như là lớp ''La Galissonniere'' được cải tiến với trọng lượng choán nước 8.000 tấn, cùng loại vũ khí và cách sắp xếp ba tháp pháo 152 &nbsp;mm ba nòng gồm hai phía trước và một phía sau, và ba tháp pháo nòng đôi phòng không 90 &nbsp;mm gồm một trên trục giữa và hai bên mạn. Thiết bị máy bay gồm hai máy phóng, cần cẩu và hầm chứa có thể mang theo 3-4 thủy phi cơ, được bố trí giữa tàu phía sau một ống khói lớn duy nhất. Chúng dự định có một hệ thống động lực mạnh mẽ hơn, công suất 110.000 mã lực, để đạt đến tốc độ 35 knot. Kiểu dáng với một tháp cấu trúc thượng tầng lớn phía trước chịu ảnh hưởng từ thiết kế của tàu tuần dương [[Algérie (tàu tuần dương Pháp)|''Algérie'']]. Tuy nhiên, chỉ có chiếc dẫn đầu được đặt lườn tại Xưởng hải quân [[Lorient]], và công việc bị ngừng lại cho chiến tranh. Con tàu được hạ thủy vào năm [[1946]] và chỉ hoàn tất vào năm [[1956]] theo một thiết kế tàu tuần dương phòng không [[De Grasse (C 610)]].<ref>{{Harvnb|Le Masson|1969|p=106}}</ref>
 
== Thiết kế ==
Rõ ràng là rất khó để so sánh lớp tàu tuần dương ''La Galissonière'' với những tàu tuần dương Kiểu B theo chuẩn [[Hiệp ước Hải quân London|Hiệp ước London]] vì chúng rất khác nhau về tải trọng, vũ khí và vỏ giáp, từ [[Dido (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Dido'']] của Anh,<ref>{{Harvnb|Lenton|1973|p=119}}</ref> [[Atlanta (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Atlanta'']] của Hoa Kỳ<ref>{{Harvnb|Lenton|1968|p=68}}</ref> hay [[Giussano (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Giussano'']] của Ý với trọng lượng choán nước {{convert|6000 |t|LT|abbr=on}} hay ít hơn, trang bị những cỡ nòng pháo khác nhau đôi khi nhỏ hơn 152 &nbsp;mm; cho đến những tàu tuần dương hạng nhẹ lớn [[Duca degli Abruzzi (tàu tuần dương Ý)|''Duca degli Abruzzi'']], [[Brooklyn (lớp tàu tuần dương)|''Brooklyn'']] hay [[Town (lớp tàu tuần dương) (1936)|''Town'']] với trọng lượng khoảng 10.000 tấn và có từ mười đến mười lăm pháo 152 &nbsp;mm.
 
Với một trọng lượng choán nước tiêu chuẩn 7.500 tấn và chín khẩu pháo 152 &nbsp;mm, lớp tàu tuần dương ''La Galissonière'' thuộc về một hạng ở khoảng trung gian, so sánh được với các tàu tuần dương hạng nhẹ [[Nürnberg (tàu tuần dương Đức)|''Nürnberg'']] cuối cùng của Hải quân Đức (một phiên bản cải tiến của chiếc [[Leipzig (tàu tuần dương Đức)|''Leipzig'']]),<ref>{{Harvnb|Lenton|1966|p=65}}</ref> [[Raimondo Montecuccoli (tàu tuần dương Ý)|''Montecuccoli'']] của Ý (từ một phiên bản trung gian của [[Condottieri (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Condottieri'']]), hay những chiếc [[Crown Colony (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Fiji'']] mang chín khẩu pháo,<ref>{{Harvnb|Lenton|1973|p=134}}</ref> một phiên bản rút gọn của [[Town (lớp tàu tuần dương) (1936)|lớp tàu tuần dương ''Town'']].
 
Trọng lượng choán nước của các tàu tuần dương Pháp vào khoảng 7.000-9.000 tấn, vẫn đủ để mang được vỏ giáp mạnh và vũ khí nặng, trong khi vẫn duy trì được tốc độ tốt. Dàn pháo chính, với ba tháp pháo ba nòng, tập trung một hỏa lực mạnh trên một lườn tàu tương đối ngắn. Với trọng lượng choán nước ở lớp 7.000 tấn, giống như nhóm thứ ba của lớp ''Condottieri'' gồm các chiếc ''Attendolo'' và ''Montecuccoli''. Trong khi ''Condottieri'' có bốn tháp pháo và tám khẩu pháo 152 &nbsp;mm, những chiếc tàu Pháp có ba tháp pháo và chín khẩu pháo. Như ta đã thấy bên trên, việc áp dụng rộng rãi tháp pháo ba nòng đã cho phép, ví dụ như các tàu tuần dương Hải quân Hoa Kỳ, có chín khẩu pháo 203 &nbsp;mm hoặc thậm chí mười lăm khẩu 152 &nbsp;mm, trên một lườn tàu 10.000 tấn; hoặc như trên các tàu tuần dương hạng nhẹ của Đức, chín khẩu pháo 5,9 &nbsp;inch (150 &nbsp;mm) với trọng lượng choán nước dưới 7.000 tấn.
 
Dàn pháo chính được trang bị kiểu [[hải pháo 152 mm/55 Modèle 1930]] mạnh mẽ, vốn là kiểu duy nhất với cỡ nòng {{convert|152|mm|in|abbr=on}} được Pháp chế tạo. Cho dù có cỡ nòng nhỏ hơn, kiểu pháo này mạnh mẽ hơn so với cỡ pháo 155 &nbsp;mm trước đó, có khả năng bắn xa {{convert|26300|m|yd|abbr=on}} với đầu đạn pháo nặng {{convert|57,17|kg|lb|abbr=on}} ở [[lưu tốc đầu đạn]] 870 &nbsp;m/s (2.854 f/s). Loại vũ khí này thậm chí còn có thể bắn đầu đạn [[pháo xuyên thép]] (AP) Hoa Kỳ nặng {{convert|58,8|kg|lb|abbr=on}} đi xa {{convert|26960|m|yd|abbr=on}}, trong khi một khẩu pháo 152 &nbsp;mm tiêu biểu của Anh UK nặng {{convert|50,8|kg|lb|abbr=on}} chỉ đạt tầm xa tối đa {{convert|23000|m|yd|abbr=on}}. Với đầu đạn AP này của Mỹ, nó có khả năng xuyên thủng thép tấm dày {{convert|122|mm|in|abbr=on}} mm ở khoảng cách {{convert|9970|m|yd|abbr=on}}, mạnh đáng kể khi so sánh với pháo 152 thông thường. Phiên bản đa dụng của loại vũ khí này được sử dụng cho [[Richelieu (lớp thiết giáp hạm)|lớp thiết giáp hạm ''Richelieu'']] nhưng không mấy thành công do tốc độ bắn tương đối chậm đối với mục đích phòng không. Bệ pháo trang bị cho tàu tuần dương thuộc Model 1930, nặng {{convert|169,3|t|LT|abbr=on}}; tốc độ bắn của chúng là một phát mỗi 12 giây (5 phát mỗi phút). Do cuộc tranh đua chủ yếu nhắm vào phía Ý, kiểu vũ khí này tốt hơn đáng kể so với pháo 152 &nbsp;mm/55 cal mà nhóm cuối của lớp ''Condottieri'' và lớp ''Littorio'' trang bị, với tầm xa chỉ đạt {{convert|25700|m|yd|abbr=on}} mặc dù có trọng lượng nặng hơn (57,17 &nbsp;kg so với 50 &nbsp;kg). Đối với nhóm đầu của lớp tàu tuần dương ''Condottieri'', ưu thế rõ rệt hơn đáng kể, vì kiểu pháo 152 &nbsp;mm/35 cal có tầm xa tối đa {{convert|22000|–|24000|m|yd|abbr=on}} và bị phân tán đáng kể. Nguồn Nawveapons.com cho rằng kiểu pháo 152 &nbsp;mm Model 1930 nhìn chung là một thiết kế khá thành công, ít nhất ở khía cạnh bố trí cho mục đích đơn trên tàu tuần dương, không chỉ đơn thuần dựa vào số liệu lý thuyết, ngay cả khi tốc độ bắn tương đối chậm.
 
Dàn vũ khí hạng hai cũng khá bất thường so với truyền thống của Hải quân Pháp: pháo 90 &nbsp;mm/50 cal Kiểu 1926. Đây là kiểu vũ khí được cải tiến dựa trên kiểu pháo 75 &nbsp;mm cũ, với bệ nòng đơn hoặc nòng đôi. Những chiếc trong lớp ''La Galissonnière'' được trang bị bốn khẩu đội nòng đôi. Vào lúc đó, loại vũ khí này rất mạnh mẽ cho dù chúng bắn ra đầu đạn pháo nhẹ hơn so với loại pháo 90 &nbsp;mm sau này. Chúng bắn ra đạn pháo nặng {{convert|9,5|kg|lb|abbr=on}} với tốc độ bắn 12-15 phát mỗi phút, đạt tầm xa tối đa {{convert|15440|m|yd|abbr=on}} ở góc nâng 45°, và trần bắn tối đa {{convert|10600|m|yd|abbr=on}} khi sử dụng làm vũ khí phòng không ở góc nâng 80°. Các con tàu cũng được trang bị hai dàn phóng [[ngư lôi]] nòng đôi hai bên mạn giữa tàu. Ngư lôi thuộc kiểu 23 DT, kích cỡ {{convert|550|mm|in|abbr=on}},<ref>{{Harvnb|Le Masson|1969|p=103}}</ref> được đưa vào phục vụ kể từ năm [[1925]], nặng {{convert|2068|kg|lb|abbr=on}}, dài {{convert|8,28|m|ft|abbr=on}}, mang đầu đạn chứa {{convert|310|kg|lb|abbr=on}} thuốc nổ TNT; chúng có tầm xa tối đa {{convert|9000|m|yd|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|39|kn|km/h|abbr=on}} và {{convert|13000|m|yd|abbr=on}} ở tốc độ {{convert|35|kn|km/h|abbr=on}}. Trang bị dành cho máy bay gồm hầm chứa và cần cẩu đặt ở đuôi tàu cùng một máy phóng đặt bên trên tháp pháo 152 &nbsp;mm phía sau, có thể chứa cho đến bốn [[thủy phi cơ]] [[Loire 130]].
 
Giống như mọi tàu chiến Pháp hoàn thành trước chiến tranh, dàn hỏa lực phòng không tầm gần ban đầu của chúng khá yếu, chỉ với bốn khẩu pháo 37 &nbsp;mm nòng đôi và sáu súng máy 13,2 &nbsp;mm hai nòng. Chúng được bổ sung vào năm [[1941]] thêm một pháo 37 &nbsp;mm, một pháo 25 &nbsp;mm nòng đôi và hai súng máy Hotschkiss 13,2 &nbsp;mm hai nòng. Dưới sự giúp đỡ của [[Hoa Kỳ]] vào năm [[1943]], ba chiếc tàu tuần dương còn lại ''Georges Leygues'', ''Montcalm'' và ''Gloire'' được tháo dỡ các thiết bị phóng máy bay cùng các vũ khí phòng không ban đầu, được thay thế bởi sáu khẩu đội phòng không [[Bofors 40 mm]] bốn nòng cùng hai mươi khẩu [[Oerlikon 20 mm]] nòng đơn.
 
Vỏ giáp của chúng dày hơn so với nhiều tàu tuần dương khác vào thời đó, ví dụ như [[Condottieri (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Condottieri'']] của Ý, đủ mạnh để chịu đựng hỏa lực từ một tàu tuần dương khác. [[Đai giáp]] và lớp giáp [[sàn tàu]] dày hơn đáng kể so với thông thường. Nhóm III của lớp ''Condottieri'' chỉ có đai giáp dày {{convert|60|mm|in|abbr=on}} và sàn tàu dày {{convert|30|mm|in|abbr=on}}, trong khi lớp ''La Galissonnière'' có đai giáp dày đến {{convert|75|–|105|mm|in|abbr=on}}<ref group=Note"Ghi chú">Có nguồn cho là đến 120 mm.</ref> và sàn tàu dày {{convert|37|–|50|mm|in|abbr=on}}. Lớp giáp này đủ để chống đỡ đạn pháo {{convert|152|mm|in|abbr=on}} từ khoảng cách chiến đấu,<ref group=Note"Ghi chú">Nguồn navweapons.com cho là đạn pháo 76 mm từ khoảng cách 11.000 m, nếu được bắn từ một khẩu pháo Anh.</ref> trong khi đối thủ Ý không thể làm được điều tương tự với một vỏ giáp nhẹ đánh đổi lấy tốc độ tốt nhất. Chỉ có nhóm cuối cùng của ''Condottieri'' là vượt trội, với trọng lượng choán nước 9.100 tấn (20% lớn hơn so với các tàu Pháp), với 10 khẩu pháo và đai giáp dày {{convert|130|mm|in|abbr=on}}, được cho là cùng có thể chịu đựng đạn pháo 152 &nbsp;mm, nhưng chúng chỉ có hai chiếc; dù sao, chưa bao giờ những chiếc tàu chiến mạnh mẻ này đối đầu với nhau. Nhưng đai giáp dày 105 &nbsp;mm của lớp ''La Galissonnière'' đều dày hơn so với chiếc [[Nürnberg (tàu tuần dương Đức)|''Nürnberg'']] (50 &nbsp;mm) của Đức, [[Dido (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Dido'']] (76,2 &nbsp;mm) hay [[Crown Colony (lớp tàu tuần dương)|lớp Crown Colony]] (88 &nbsp;mm) của Anh, và tương đương với [[Leander (lớp tàu tuần dương) (1931)|lớp ''Leander'']]. Việc bảo vệ tháp pháo, với lớp giáp dày {{convert|100|mm|in|abbr=on}} ở mặt trước và {{convert|50|mm|in|abbr=on}} trên các mặt hông, mặt sau và nóc, cũng tốt hơn các tàu tuần dương khác có trọng lượng tương đương (1.25 &nbsp;inch của ''Nürnberg'', 1 &nbsp;inch của ''Dido'', 2 &nbsp;inch đối với ''Town'' hay Crown Colony), ngoại trừ vỏ giáp 3 đến 5 &nbsp;inch trên [[Brooklyn (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Brooklyn'']] của Hoa Kỳ.
 
Hệ thống động lực được cung cấp bởi bốn [[nồi hơi]] [[fonderie d'Indret|Indret]] và bốn [[turbine hơi nước]], gồm turbine của hãng [[Charles Algernon Parsons|Parsons]] trên những chiếc ''La Galissonnière'', ''Georges Leygues'' và ''Montcalm'' hoặc của hãng [[Auguste Rateau|Rateau Bretagne]] trên những chiếc ''Jean de Vienne'', ''Marseillaise'' và ''Gloire''; chúng dẫn động hai trục chân vịt, có công suất {{convert|84000|shp|kW|abbr=on|lk=on}}. Chúng dễ dàng duy trì một tốc độ {{convert|31|-|32|kn|km/h|abbr=on}}, và tất cả đều vượt hơn tốc độ thiết kế {{convert|33|kn|km/h|abbr=on}} khi chạy thử máy. Trong một chuyến đi chạy thử máy, [[Marseillaise (tàu tuần dương Pháp) (1935)|''Marseillaise'']] đã đạt được tốc độ trung bình {{convert|34,98|kn|km/h|abbr=on}} trong tám giờ và đạt đến {{convert|35,39|kn|km/h|abbr=on}} vào giờ thứ chín. Vào cuối chiến tranh, chúng vẫn dễ dàng đạt được tốc độ {{convert|32|kn|km/h|abbr=on}} với trọng lượng choán nước đầy tải lên đến {{convert|10850|t|LT|abbr=on}}.<ref>{{Harvnb|Le Masson|1969|p=20}}</ref> Tầm xa hoạt động {{convert|5500|nmi|km|abbr=on}} ở tốc độ đường trường {{convert|18|kn|km/h|abbr=on}} tốt hơn đáng kể so với các đối thủ ''Condottieri'' vốn chỉ đạt khoảng {{convert|3800|nmi|km|abbr=on}} ở tốc độ đường trường {{convert|18|kn|km/h|abbr=on}}; chúng tương đương với các tàu tuần dương hạng nhẹ Anh và Đức về tốc độ và bán kính hoạt động, ngoại trừ các lớp ''Leander'' và [[Arethusa (lớp tàu tuần dương) (1934)|''Arethusa'']] vốn có tầm xa hoạt động vượt trội lên đến {{convert|12000 |nmi|km|abbr=on}}.<ref>{{Harvnb|Lenton|1973|p=83, 93}}</ref>
== Tham khảo ==
=== Ghi chú ===
{{Reflist|group=Note"Ghi chú"}}
=== Chú thích ===
{{Reflist|2}}
== Xem thêm ==
* {{Commonscat-inline|La Galissonnière class cruisers}}
 
 
 
{{Lớp tàu tuần dương La Galissonnière}}
72.718

lần sửa đổi