Khác biệt giữa các bản “Scharnhorst (lớp thiết giáp hạm)”

n
clean up, replaced: group=Note → group="Ghi chú" (6) using AWB
n (r2.7.2) (Bot: Sửa hu:Scharnhorst osztály (1936))
n (clean up, replaced: group=Note → group="Ghi chú" (6) using AWB)
 
== Xếp lớp ==
Chúng là lớp tàu chiến Đức đầu tiên được Hải quân Đức chính thức phân loại như những thiết giáp hạm (''Schlachtschiff'').<ref>Gröner, trang 31.</ref> Các thiết giáp hạm Đức trước đây chỉ được phân loại là [[tàu chiến tuyến]] (''Linienschiffe''),<ref group=Note"Ghi chú">Gröner, trang 16-28.<br/> Nguồn này cung cấp thông tin phân loại của từng lớp tàu chiến chủ lực, cho biết các lớp [[Wittelsbach (lớp thiết giáp hạm)|''Wittelsbach'']], [[Braunschweig (lớp thiết giáp hạm)|''Braunschweig'']], [[Deutschland (lớp thiết giáp hạm)|''Deutschland'']], [[Nassau (lớp thiết giáp hạm)|''Nassau'']], [[Helgoland (lớp thiết giáp hạm)|''Helgoland'']], [[Kaiser (lớp thiết giáp hạm)|''Kaiser'']], [[König (lớp thiết giáp hạm)|''König'']] và [[Bayern (lớp thiết giáp hạm)|''Bayern'']] được phân loại là tàu chiến tuyến (''Linienschiffe'').</ref> hay tàu bọc thép (''Panzerschiffe'').<ref group=Note"Ghi chú">Gröner, trang 5-14.<br/> Nguồn này cho biết các lớp [[tàu frigate]] bọc thép [[Preußen (lớp tàu frigate)|''Preußen'']] và [[Sachsen (lớp tàu frigate)|''Sachsen'']], chiếc [[SMS Oldenburg (1884)|SMS ''Oldenburg'']], các lớp thiết giáp hạm [[Brandenburg (lớp thiết giáp hạm)|''Brandenburg'']] và [[Kaiser Friedrich III (lớp thiết giáp hạm)|''Kaiser Friedrich III'']] được phân loại là tàu bọc thép (''Panzerschiffe''), trong khi các lớp tàu phòng duyên [[Siegfried (lớp tàu phòng duyên)|''Siegfried'']] và [[Odin (lớp tàu phòng duyên)|''Odin'']] được xếp loại là ''Panzerschiffe'' hạng tư. Những nguồn của Anh đương thời xếp loại những ''Panzerschiffe'' như là thiết giáp hạm và ''Panzerschiffe'' hạng tư như là tàu phòng duyên. Ví dụ: [[Brassey's Naval Annual|''Niên giám Hải quân Brassey 1888-1889'']] trang 76 liệt kê các lớp [[SMS Kronprinz (1867)|''Kronprinz'']], ''Friedrich Carl'', [[SMS König Wilhelm (1868)|''König Wilhelm'']], ''Hansa'', ''Preußen'', [[Kaiser (lớp tàu frigate)|''Kaiser'']], ''Sachsen'' và ''Oldenburg'' như là thiết giáp hạm; còn ''Niên giám 1899'' trang 81-84 liệt kê các lớp ''Brandenburg'' và ''Kaiser Friedrich III'' như là thiết giáp hạm hạng nhất, các lớp ''Sachsen'', ''Oldenburg'' và ''Kaiser'' như thiết giáp hạm hạng ba, và các lớp ''Siegfried'' và ''Odin'' như là tàu phòng duyên.</ref>
 
Đối thủ của họ, [[Hải quân Hoàng gia Anh]], xem chúng như những [[tàu chiến-tuần dương]]<ref>Churchill, trang 245</ref><ref>Vandervat, trang 82</ref> mặc dù sau chiến tranh lại xếp loại chúng như những thiết giáp hạm.<ref name=StaffHistory>BR 1736(48)(2) ''Naval Staff History Second World War, Home Waters and the Atlantic, Volume II, 9th April 1940 – 6th December 1941'', Historical Section Admiralty, pub 20 November 1961. trang 14-15.</ref> Nguồn ''Jane's Fighting Ships 1940'' liệt kê cả hai lớp ''Scharnhorst'' và [[Bismarck (lớp thiết giáp hạm)|''Bismarck'']] như là thiết giáp hạm (''Schlachtschiffe'')".<ref>''Jane's Fighting Ships 1940'', trang 212-213.</ref> Một đối thủ khác, [[Hải quân Hoa Kỳ]], xem chúng như những thiết giáp hạm.<ref name="USN Scharnhorst">{{cite web| title = Scharnhorst (Battleship, 1939-1943) | url = http://www.history.navy.mil/photos/sh-fornv/germany/gersh-s/scharn2.htm | publisher = USN Historical Center | date = 14 March 2001 | accessdate = 19 September 2009}}</ref> Những công trình tham khảo bằng tiếng Anh đôi khi gọi chúng là thiết giáp hạm và đôi khi lại là tàu chiến-tuần dương.<ref group=Note"Ghi chú">Ví dụ, quyển ''Battleships: Axis and Neutral Battleships in World War II'' của William Garzke và Robert Dulin trang 127 xem chúng như những tàu chiến-tuần dương; trong khi tác phẩm ''All the World's Battleships 1906-Present'' của Conway do Maritime Press xuất bản, trang 43, xem chúng như những thiết giáp hạm.</ref>
 
== Bối cảnh ==
Vốn đặt ra những điều khoản nhằm để kết thúc Thế Chiến I, [[Hiệp ước Versailles]] đã giới hạn việc chế tạo tàu chiến của [[Hải quân Đức]] (''Kriegsmarine'') ở mức tàu tuần dương có [[trọng lượng choán nước]] không vượt quá {{convert|10000|LT|ST}}. Những sự tranh luận tại Đức về vai trò và kích cỡ của hải quân được tiếp diễn trong suốt những năm [[thập niên 1920|1920]], khi việc tăng cường lực lượng hải quân tại Pháp và Nga đã khiến người Đức bắt đầu thiết kế các tàu chiến chủ lực lớn.<ref>Garzke & Dulin, trang 127</ref> Thiết kế thứ nhất, hoàn tất năm [[1928]], đề nghị một kiểu tàu chiến-tuần dương tải trọng {{convert|17500|LT|ST}} trang bị tám pháo 30,5 cm (12 inch) trên bốn [[tháp pháo]] nòng đôi.<ref>Garzke & Dulin, trang 127-128</ref> Khi [[Adolf Hitler]] lên nắm quyền tại Đức vào năm [[1933]], ông xác định với giới lãnh đạo hải quân rằng ông không có ý định chế tạo một hạm đội lớn để thách thức ưu thế của người Anh trên mặt biển; mối quan tâm chính của Hitler là khả năng của một cuộc chiến tranh giới hạn với Pháp, trong đó có nhu cầu phải bảo vệ các tuyến đường thương mại hàng hải của Đức. Với mục đích này, ông chấp thuận cho chế tạo thêm hai [[tàu tuần dương]] [[Lớp tàu tuần dương D (Đức)|lớp D]] để bổ sung cho ba chiếc tàu chiến bọc thép (''Panzerschiffe'') [[Deutschland (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Deutschland'']].<ref name=G&D1128>Garzke & Dulin, trang 128</ref> Những con tàu này sẽ có trọng lượng choán nước 19.000 tấn và có vũ khí trang bị cùng tốc độ như những chiếc ''Panzerschiffe''; tải trọng tăng thêm được sử dụng vào việc tăng cường tăng cường bảo vệ. Hitler mong muốn đi theo cách này nhằm không để bị xem là công khai vi phạm Hiệp ước Versailles. Tuy nhiên, ông đã không nhận thức được rằng những tàu chiến cướp tàu buôn "không thể chìm" này sẽ kích động Anh Quốc nặng nề hơn là các tàu chiến-tuần dương 26.000 tấn trang bị pháo 28,3 &nbsp;cm (11,1 &nbsp;inch), vốn bị đánh giá là yếu kém hơn so với mọi thiết giáp hạm và tàu chiến-tuần dương của Hải quân Hoàng gia đang hoạt động.<ref name="gardiner225">Gardiner, trang 225.</ref>
[[Tập tin:Gneisenau1942.png|thumb|left|Sơ đồ ''Gneisenau'' mô tả cấu hình của nó vào năm [[1942]]]]
Để đối phó lại các ''Panzerschiffe'' của Đức, Pháp chế tạo hai thiết giáp hạm nhỏ [[Dunkerque (lớp thiết giáp hạm)|lớp ''Dunkerque'']] vào đầu những năm [[thập niên 1930|1930]]. Điều này đến lượt nó lại khiến Hải quân Đức bắt đầu có kế hoạch thiết kế một tàu chiến-tuần dương mạnh mẻ hơn.<ref name=G&D1128/> Từ năm [[1933]], [[Đô đốc]] [[Erich Raeder]], người đứng đầu Hải quân Đức, đã tranh luận nhằm tăng cường hơn nữa chất lượng phòng thủ của ''Panzerschiffe'' và gia tăng sức mạnh tấn công của dàn pháo chính bằng cách bổ sung một tháp pháo thứ ba.<ref name=G&D130/> Đây cũng là quan điểm của ''[[Kriegsmarine]]'', khi cho rằng thiết kế 19.000 tấn là không cân bằng.<ref name="gardiner225"/> Hitler đồng ý với việc tăng cường vỏ giáp bảo vệ và việc phân ngăn bên trong, nhưng từ chối cho phép gia tăng vũ khí. Cuối cùng, vào [[tháng 2]] năm [[1934]], Hitler đồng ý với việc bổ sung một tháp pháo thứ ba.<ref name=G&D130>Garzke & Dulin, trang 130</ref> Con tàu mới sẽ có trọng lượng choán nước {{convert|26000|LT|ST}} và trang bị chín pháo 28,3 &nbsp;cm trên ba tháp pháo ba nòng. Nhằm đảm bảo được sự tự do về pháp lý để đóng những tàu chiến mới, Hitler đã đạt được thỏa thuận với Anh Quốc qua [[Thỏa thuận Hải quân Anh-Đức]] năm [[1935]], đảm bảo ưu thế cho Anh Quốc về tàu chiến chủ lực theo tỉ lệ 3 trên 1, và quan trọng hơn thế, dỡ bỏ mọi giới hạn về tải trọng cho Hải quân Đức.<ref name=G&D1128/>
 
Việc chế tạo lớp tàu tuần dương D bị hủy bỏ dọn đường cho ''Scharnhorst'' và ''Gneisenau''.<ref>Gröner, trang 63</ref> ''[[Ersatz]] Elsaß'' và ''Ersatz Hessen'', những cái tên dự định dành cho các tàu tuần dương lớp D, được dành lại cho những con tàu khác; hợp đồng chế tạo được trao cho các xưởng [[Kriegsmarinewerft Wilhelmshaven]] và [[Deutsche Werke]] tại [[Kiel]].<ref name=Groner31/> Công việc chế tạo bị trì hoãn mất khoảng 14 tháng, một phần là do Hitler mong muốn củng cố hiệp ước với Anh Quốc trước khi bắt đầu công việc,<ref name=G&D130/> và một phần bởi nhiều thay đổi trong thiết kế sau khi các con tàu được đặt hàng.<ref name="breyer294">Breyer, trang 294.</ref>
 
Vì Thỏa thuận Hải quân Anh-Đức cho phép cỡ nòng hải pháo tối đa là 40,6 &nbsp;cm (16 &nbsp;inch), không lâu sau đó, Hitler suy nghĩ lại về cỡ pháo sẽ được sử dụng trên các tàu chiến mới và ra lệnh chúng sẽ được trang bị cỡ vũ khí 38 &nbsp;cm (15 &nbsp;inch). Tuy nhiên, các tháp pháo 28,3 &nbsp;cm hiện đã sẵn sàng, và còn phải mất nhiều năm để phát triển tháp pháo 38 &nbsp;cm, trong khi Hitler mong muốn có các tàu chiến chủ lực càng sớm càng tốt để đáp ứng những ý tưởng chính trị của mình.<ref name="gardiner225"/> Ông cũng được nhắc nhở rằng, mặc dù được cho phép trong Thỏa thuận, người Anh trong lịch sử tỏ ra nhạy cảm đối với việc tăng cỡ nòng pháo chính trên các tàu chiến chủ lực Đức.<ref name="breyer294"/> Vì vậy ông bằng lòng cho các con tàu được trang bị cỡ pháo 28,3 &nbsp;cm, với điều kiện là chúng sẽ được nâng cấp lên cỡ 38 &nbsp;cm vào cơ hội sớm nhất có thể. Tháp pháo 38 &nbsp;cm cuối cùng được sử dụng trên [[Bismarck (lớp thiết giáp hạm)|lớp thiết giáp hạm ''Bismarck'']].<ref name="gardiner225"/>
 
== Thiết kế ==
''Scharnhorst'' được vận hành bởi ba [[turbine hơi nước]] hộp số [[Brown, Boveri & Cie|Brown, Boveri, & Co]], trong khi ''Gneisenau'' được trang bị ba turbine [[Friedrich Krupp Germaniawerft|Germania]] của hãng Krupp. Chúng dẫn động các trục chân vịt ba cánh đường kính {{convert|4,8|m|ft|abbr=on}}. Hơi nước được cung cấp đến các turbine bởi 12 nồi hơi Wagner đốt dầu áp suất rất cao, tạo ra hơi nước có áp lực đến {{convert|58|atm}} và nhiệt độ cho đến {{convert|450|C|F}}. Hệ thống động lực này có tổng công suất 160.000 mã lực ở 265 vòng quay mỗi phút (rpm), và khi chạy thử máy đã đạt đến công suất 165.930 mã lực ở số vòng quay 280 rpm. Khi quay ngược, động cơ đạt được công suất 57.000 mã lực. Các con tàu được thiết kế để đạt được tốc độ {{convert|31|kn|lk=on}}, cho dù khi chạy thử máy cả hai chiếc đều vượt quá tốc độ thiết kế: ''Scharnhorst'' đạt được {{convert|31,5|kn|abb=on}} và ''Gneisenau'' đạt {{convert|31,3|kn|abbr=on}}. Các con tàu theo thiết kế mang theo {{convert|2800|MT}} dầu đốt; nhưng cùng với các khu vực chứa bổ sung, bao gồm chỗ trống trong lườn tàu giữa đai giáp và [[vách ngăn chống ngư lôi]], đã gia tăng trữ lượng nhiên liệu lên {{convert|5080|MT}}. Với lượng nhiên liệu tối đa mang theo, các con tàu được kỳ vọng sẽ có tầm hoạt động {{convert|8100|nmi|lk=on}} ở tốc độ đường trường {{convert|19|kn|abbr=on}}; tuy nhiên, ''Scharnhorst'' chỉ đạt được {{convert|7100|nmi|abbr=on}} ở tốc độ 19 knot, trong khi ''Gneisenau'' đạt {{convert|6200|nmi|abbr=on}} ở tốc độ này.<ref name=Groner31/>
 
Nguồn năng lượng điện được cung cấp bởi năm cụm máy phát điện, mỗi cụm bao gồm bốn máy phát diesel và tám máy phát turbine. Bốn máy phát diesel được chia thành hai cặp: bốn chiếc cung cấp công suất 150 [[kilowatt]] (kW) mỗi chiếc và hai chiếc kia là 300 &nbsp;kW mỗi chiếc. Tám máy phát turbine cũng có năng suất hỗn hợp: sáu chiếc cung cấp 460 &nbsp;kW mỗi chiếc và hai chiếc còn lại cung cấp 230 &nbsp;kW mỗi chiếc. Tổng công suất điện cung cấp là 4.120 &nbsp;kW ở hiệu thế 220 [[volt]].<ref name=Groner31/>
 
=== Vũ khí ===
[[Tập tin:Scharnhorst guns.jpg|thumb|right|Các khẩu pháo phía trước của chiếc ''Scharnhorst'']]
Lớp ''Scharnhorst'' được chế tạo với chín khẩu pháo [[Hải pháo 28 cm SK C/34|28,3 cm (11,1 inch) SK C/34]] 54,5 caliber bắn nhanh bố trí trên ba [[tháp pháo]] ba nòng, hai phía trước và một phía sau.<ref name=Groner31/> Những khẩu pháo này là một sự cải tiến so với kiểu pháo trước đó 28,3 &nbsp;cm SK C/28 được trang bị cho lớp tàu tuần dương ''Deutschland''. Trong khi kiểu pháo 28,3 &nbsp;cm có cỡ nòng nhỏ hơn so với dàn pháo chính của hải quân các nước khác, chúng vẫn được một số sĩ quan pháo binh trong Hải quân Đức ưa chuộng do tốc độ bắn cao.<ref name="breyer294"/> Các khẩu pháo này được cung cấp ba kiểu đạn pháo khác nhau: [[đạn pháo xuyên thép]] (AP: armor-piercing) L/4,4 nặng 330 &nbsp;kg (727,5 &nbsp;lb) và hai kiểu [[đạn pháo miểng]] (HE: high explosive) đều nặng 315 &nbsp;kg (694,4 &nbsp;lb), kiểu L/4,4 với kíp nổ ở đáy và kiểu L/4,5 với kíp nổ ở mũi. Cả ba loại đạn pháo đều sử dụng chung một loại [[thuốc phóng]]: liều thuốc phóng một phần RPC/38 42,5 &nbsp;kg (93,7 &nbsp;lb) và liều thuốc phóng đầy đủ RPC/38 76,5 &nbsp;kg (168,6 &nbsp;lb). Chúng bắn ra các đầu đạn với tốc độ bắn 3,5 phát mỗi phút. [[Lưu tốc đầu đạn]] của đầu đạn pháo AP là 890 &nbsp;m/s (2.920 &nbsp;ft/s); các khẩu pháo này được kỳ vọng sẽ bắn được 300 phát trước khi nòng pháo bị hao mòn đến mức cần xẻ rảnh lại hay thay thế. Các khẩu pháo của ''Scharnhorst'' và ''Gneisenau'' được bố trí trên ba tháp pháo Drh LC/34, được đặt tên theo thứ tự chữ cái từ mũi tàu ra sau: "Anton", "Bruno" và "Cäsar". Giống như đa số các tàu chiến Đức khác, những tháp pháo này có hệ thống xoay vận hành bằng điện, nhưng các hoạt động khác là bằng hệ thống thủy lực. Cho dù khối lượng xoay của tháp pháo lên đến 750 tấn (bệ tháp pháo có đường kính trong 10,2 m), tốc độ xoay được xem là khá tốt: 7,2° mỗi phút. Kiểu tháp pháo này cho phép hạ nòng pháo đến góc −8° và nâng lên đến 40° cho tháp pháo "A" và "C", riêng tháp pháo "B" có khả năng hạ đến −9°. Ở góc nâng tối đa, các khẩu pháo này có thể bắn mục tiêu ở xa 40.930 m (44.760 yard).<ref name=Navweaps28>{{cite web| last = DiGiulian| first = Tony| title = German28 cm/54.5 (11") SK C/34 | url = http://www.navweaps.com/Weapons/WNGER_11-545_skc34.htm| publisher = Navweaps.com| date = 13 October 2006| accessdate = 9 September 2009}}</ref>
 
Những con tàu này trang bị dàn pháo hạng hai gồm mười hai khẩu [[hải pháo 15 cm SK C/28]] L/55 bắn nhanh, được bố trí trên bốn tháp pháo Drh L. C/34 nòng đôi và bốn bệ MPL/35 nòng đơn. Cả kiểu tháp pháo và kiểu bệ đều cho phép hạ nòng pháo cho đến góc −10°; tháp pháo nâng được tối đa cho đến 40° trong khi bệ pháo bị giới hạn ở góc 35°. Các khẩu pháo này bắn ra đầu đạn nặng 45,3 &nbsp;kg (99,87 &nbsp;lb) ở tốc độ 6-8 phát mỗi phút, và được kỳ vọng sẽ bắn được 1.100 phát trước khi nòng pháo bị hao mòn đến mức cần xẻ rảnh lại hay thay mới. Pháo trên bệ có tầm bắn tối đa 22.000 m (24.060 yard), trong khi các khẩu trong tháp pháo, nhờ có góc nâng tăng thêm 5°, có tầm bắn xa hơn đôi chút đến 23.000 m (25.153 yard). Chúng được cung cấp khoảng 1.600-1.800 đạn pháo, tức 133-150 viên đạn cho mỗi khẩu pháo.<ref name=Navweaps15>{{cite web| last = DiGiulian| first = Tony| title = German 15 cm/55 (5.9") SK C/28 | url = http://www.navweaps.com/Weapons/WNGER_59-55_skc28.htm| publisher = Navweaps.com| date = 20 November 2008| accessdate = 9 September 2009}}</ref>
 
Dàn hỏa lực phòng không bao gồm mười bốn khẩu [[10,5 cm FlaK 38|10,5 cm C/33]] L/65, mười sáu khẩu 3,7 &nbsp;cm L/83, và từ mười đến hai mươi khẩu 2 &nbsp;cm. Pháo 10,5 &nbsp;cm bắn ở tốc độ 15-18 viên mỗi phút, và có trần bắn hiệu quả 12.500 &nbsp;m (41.010 &nbsp;ft). Chúng được bố trí trên sáu bệ Dopp L. C/31 nòng đôi ở giữa tàu, cho phép hạ đến −8° và nâng lên đến 80°. Khi được sử dụng chống các mục tiêu trên mặt biển, chúng có tầm bắn tối đa 17.700 m (19.357 yard) ở góc nâng 45°.<ref name="Navweaps105">{{cite web | last = DiGiulian | first = Tony | title = German 10.5 cm/65 (4.1") SK C/33| url = http://www.navweaps.com/Weapons/WNGER_41-65_skc33.htm | publisher = Navweaps.com | date = 26 January 2009 | accessdate = 9 September 2009 }}</ref> Pháo 3,7 &nbsp;cm được bố trí trên tám bệ Dopp L. C/30 nòng đôi vận hành bằng tay. Ở góc nâng 85°, chúng có trần bắn hiệu quả 6.800 &nbsp;m (22.310 &nbsp;ft), mặc dù đầu đạn pháo sáng bị giới hạn ở trần tối đa 4.800 &nbsp;m (15.750 &nbsp;ft). Chúng có tốc độ bắn 30 phát mỗi phút.<ref name="Navweaps37">{{cite web | last = DiGiulian | first = Tony | title = Germany 3.7 cm/L83 (1.5") SK C/30 3.7 cm/L83 (1.5") SK C/30U | url = http://www.navweaps.com/Weapons/WNGER_37mm-83_skc30.htm | publisher = Navweaps.com | date = 26 January 2009 | accessdate = 9 September 2009 }}</ref>
 
Sau năm [[1942]], sáu ống phóng [[ngư lôi]] 53,3 &nbsp;cm bố trí trên sàn tàu được lấy từ các [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] [[Leipzig (tàu tuần dương Đức)|''Leipzig'']] và [[Nürnberg (tàu tuần dương Đức)|''Nürnberg'']] để trang bị cho lớp ''Scharnhorst'', với trữ lượng chiến đấu 18 quả ngư lôi. Kiểu ngư lôi này dài 7,2 m (23 &nbsp;ft 7 in) và mang một đầu đạn [[Hexanite]] 300 &nbsp;kg (661 &nbsp;lb). Chúng có thể đặt ở ba tốc độ di chuyển khác nhau: {{convert|30|kn|abbr=on}}, {{convert|40|kn|abbr=on}} và {{convert|44|kn|abbr=on}}. Ở tốc độ 30 knot, quả ngư lôi có tầm hoạt động tối đa 14.000 m (15.300 yard); ở 40 knot tầm xa giảm tương ứng còn 8.000 m (8.750 yard); và ở 44 knot tầm xa giảm hơn nữa chỉ còn 6.000 m (6.560 yard). Người ta khám phá sau đó rằng tốc độ 44 knot khiến cho động cơ trở nên quá nóng, nên tốc độ này không còn được sử dụng.<ref name="NavweapsTorp">{{cite web | last = DiGiulian | first = Tony | title = German Torpedoes of World War II | url = http://www.navweaps.com/Weapons/WTGER_WWII.htm| publisher = Navweaps.com | date = 30 May 2008 | accessdate = 9 September 2009 }}</ref>
 
Cả ''Scharnhorst'' và ''Gneisenau'' đều được trang bị hai bộ [[radar]] [[radar Seetakt|''Seetakt'']]; một được gắn trên tháp điều khiển hỏa lực phía trước bên trên cầu tàu, và bộ thứ hai gắn trên tháp điều khiển dàn hỏa lực chính phía sau. Radar ''Seetakt'' hoạt động ở tần số 368 &nbsp;MHz, thoạt tiên có công suất 14 &nbsp;kW, sau này được nâng cấp lên công suất 100 &nbsp;kW ở [[bước sóng]] 80 &nbsp;cm.<ref>Garzke & Dulin, trang 188-189</ref>
 
=== Vỏ giáp ===
[[Tập tin:Bundesarchiv DVM 10 Bild-23-63-46, Schlachtschiff "Scharnhorst".jpg|thumb|right|''Scharnhorst'' trong cảng; có thể thấy rõ bề dày của đai giáp chính]]
Lớp ''Scharnhorst'' được trang bị vỏ giáp bằng [[thép giáp Krupp]]. Sàn tàu bọc thép phía trên dày {{convert|50|mm|in|abbr=on}} và được hậu thuẩn bởi sàn bọc thép chính. Lớp sàn tàu này dày {{convert|20|mm|in|abbr=on}} phía sau, tăng lên 50 &nbsp;mm ở phần giữa con tàu bao gồm các hầm đạn và các khoang động cơ, và giảm xuống 20 &nbsp;mm phía mũi. Nó được hậu thuẩn bởi lớp giáp nghiêng dày {{convert|105|mm|in|abbr=on}} dọc theo hai phía hông.<ref name=Groner31/> Lớp giáp nghiêng kết nối với mép dưới của đai giáp chính, một sự bố trí được gọi là "sàn tàu mai rùa".<ref name=G&D182>Garzke & Dulin, trang 182</ref> Lớp giáp nghiêng này tăng cường đáng kể sự bảo vệ của vỏ giáp tại các vùng trọng yếu của con tàu. Các bộ phận sống còn của con tàu được bọc giáp tốt chống lại mọi cỡ đạn pháo bắn từ thiết giáp hạm vào thời đó, ở khoảng cách mà quả đạn pháo phải xuyên qua cả đai giáp chính và vỏ giáp sàn nghiêng. Tuy nhiên, ở tầm rất xa, vỏ giáp sàn tàu dễ dàng bị xuyên thủng bởi đạn pháo hạng nặng.<ref>Garzke & Dulin, trang 183</ref> Tất cả các phần này được cấu tạo bằng thép cứng (''Wotan Hart'').<ref group=Note"Ghi chú">Thép cứng (''Wotan Hart'') có lực kéo đứt gảy 85-96 kg/mm<sup>2</sup>, và có thể kéo dãn cho đến 20%. Thép mềm (''Wotan Weich'') có lực kéo đứt gảy 65-75 kg/mm<sup>2</sup>, và có thể kéo dãn cho đến 25%. Xem: Gröner, p. x</ref> [[Đai giáp]] chính dày {{convert|350|mm|in|abbr=on}} ở phần giữa con tàu, nơi các khu vực trọng yếu của con tàu được bố trí. Phía trước tháp pháo "A", độ dày của đai giáp giảm còn {{convert|150|mm|in|abbr=on}}, vốn vuốt nhọn về phía mũi tàu. Phía sau tháp pháo sau, đai giáp dày {{convert|200|mm|in|abbr=on}}, và cuối cùng vuốt chọn về phía đuôi tàu. Phần giữa của đai giáp còn được hậu thuẩn bởi những tấm chắn dày {{convert|170|mm|in|abbr=on}}. Đai giáp được cấu tạo bởi [[thép giáp Krupp]] (KC: Krupp Cemented).<ref name=Groner31/> Hệ thống bảo vệ bên hông không thể bắn thủng bởi đạn pháo {{convert|1016|kg|abbr=on}} 406 &nbsp;mm (16 &nbsp;inch) từ mọi cự ly trên {{convert|11000|m|yd|abbr=on}}.<ref name=G&D182/>
 
[[Tháp chỉ huy]] phía trước có vỏ giáp hông dày 350 &nbsp;mm và nóc dày 200 &nbsp;mm. Tháp chỉ huy phía sau được bọc giáp kém hơn, mặt hông dày {{convert|100|mm|in|abbr=on}} và nóc dày 50 &nbsp;mm. Tháp pháo của dàn pháo chính có mặt trước dày {{convert|360|mm|in|abbr=on}}, mặt hông 200 &nbsp;mm và nóc 150 &nbsp;mm.<ref name=Groner31/> Các [[bệ tháp pháo]] giữ các tháp pháo 28 &nbsp;cm cũng được bọc giáp nặng; mặt hông dày 350 &nbsp;mm và giảm dần còn 200 &nbsp;mm ở trục dọc con tàu, nơi chúng được che phủ bởi tháp pháo bên trên.<ref name=G&D185>Garzke & Dulin, trang 185</ref> Mặt trước của tháp pháo 15 &nbsp;cm dày {{convert|140|mm|in|abbr=on}}, mặt hông dày {{convert|60|mm|in|abbr=on}} và 50 &nbsp;mm trên nóc. Các khẩu pháo 10,5 &nbsp;cm cũng được trang bị tấm chắn dày {{convert|20|mm|in|abbr=on}}. Tất cả vỏ giáp trên đều làm từ thép giáp Krupp.<ref name=Groner31/>
 
Hệ thống bảo vệ dưới nước được thiết kế để chịu đựng cú đánh trúng trực tiếp của một đầu đạn nặng cho đến {{convert|250|kg|lb|abbr=on}}; [[ngư lôi]] phóng từ máy bay của Anh có đầu đạn nhỏ hơn mức này, cho dù những vũ khí phóng từ hạm tàu nổi mạnh mẻ hơn. Hải quân Đức đã tiến hành nhiều thử nghiệm nổ dưới nước toàn diện với những phần của vỏ giáp được cắt ra từ chiếc [[thiết giáp hạm tiền-dreadnought]] cũ [[SMS Preußen (1903)|SMS ''Preußen'']]. Những thử nghiệm đã cho thấy rằng cấu trúc thép hàn chịu đựng tốt hơn sức nổ của đầu đạn 250 &nbsp;kg so với thép tấm được kết nối bằng đinh tán [[rivet]]. Tuy nhiên, [[vách ngăn chống ngư lôi]] cấu tạo từ thép mềm (''Wotan Weich'') đặt phía sau đai giáp được kết cấu bằng đinh tán; đó là do chỗ nối các tấm thép nếu hàn không đúng sẽ không đủ sức chịu đựng chấn động của vụ nổ.<ref name=G&D185/> Hệ thống bảo vệ dưới nước được cấu tạo từ nhiều lớp: lớp ngoài dày từ 12 đến 66 &nbsp;mm (0,47-2,6 &nbsp;inch), đặt ngay bên dưới đai giáp chính, được thiết kế để kích nổ đầu đạn ngư lôi. Phía sau lớp ngoài là một khoảng trống lớn cho phép hơi của vụ nổ được bành trướng và phân tán. Phía sau nó là một thùng chứa nhiên liệu với lớp vỏ ngoài dày {{convert|8|mm|in|abbr=on}}; nó sẽ hấp thu mọi lực nổ còn lại. Thùng chứa nhiên liệu được nâng đỡ bởi các thanh đỡ dọc và các vách ngăng ngang.<ref>Garzke & Dulin, trang 185-186</ref>
 
Tuy nhiên, sự bảo vệ hông dưới mực nước có nhiều khiếm khuyết. Nó rất chắc chắn ở phần giữa tàu, nhưng lại yếu ở cả hai đầu của “thành trì”; việc bảo vệ dưới nước chỉ có thể ngăn chặn một đầu đạn {{convert|200|kg|lb|abbr=on}} tại những khu vực này. Một điểm yếu đáng kể khác trong thiết kế là sự sắp xếp các vách ngăn chống ngư lôi; nó nối liền với phần dưới của sàn tàu nghiêng ở một góc 10°; hai thanh tán ri-vêt chéo góc sẽ cố định nó tại chỗ. Những thanh này thường xuyên phải chịu đựng một áp lực đáng kể do những lực bẻ cong thông thường của lườn tàu. Khi kết hợp với lực nổ của một đầu đạn ngư lôi, những thanh này không thể chịu đựng được áp lực gia tăng và bị hỏng. Cũng như với độ rộng mạn thuyền chỉ có 30 m, hệ thống bảo vệ sẽ yếu hơn quanh các tháp pháo chính, vì một phần đáng kể khoảng trống trong lườn tàu đã bị chiếm chỗ bởi hầm đạn và bệ tháp pháo.<ref>Garzke & Dulin, trang 186</ref>
''Gneisenau'' được đặt lườn vào ngày [[3 tháng 5]] năm [[1935]] tại xưởng [[Deutsche Werke]] ở Kiel. Nó được hạ thủy vào ngày [[8 tháng 12]] năm [[1936]] và hoàn tất vào ngày [[21 tháng 5]] năm [[1938]].<ref name=Conways43>Sturton, trang 43</ref> Trong khi hạ thủy, con tàu đã phải chịu hư hại nhẹ ở phần đuôi tàu; dây xích hãm tốc độ hạ thủy bị đứt nên con tàu trôi quá xa và bị mắc cạn trên bờ sông đối diện. Sau khi đưa vào hoạt động, ''Gneisenau'' trải qua năm đầu tiên tiến hành các chuyến đi chạy thử máy và huấn luyện tại [[biển Baltic]]. Các chuyến đi đã bộc lộ ra việc bị ướt nước nặng trước mũi và cầu tàu, nên vào [[tháng 1]] năm [[1939]] nó được trang bị một "mũi tàu Đại Tây Dương".<ref>Garzke & Dulin, trang 132</ref> ''Scharnhorst'' được đặt lườn tại xưởng [[Kriegsmarinewerft Wilhelmshaven|Kriegsmarinewerft]] ở [[Wilhelmshaven]], vào ngày [[16 tháng 5]] năm [[1935]]. Nó được hạ thủy vào ngày [[30 tháng 6]] năm [[1936]] và hoàn tất vào ngày [[7 tháng 1]] năm [[1939]].<ref name=Conways43/> Vào giữa năm [[1939]], con tàu tiến hành chạy thử máy tại biển Baltic; và cũng giống như ''Gneisenau'', phần nổi thấp của con tàu đã buộc phải trang bị bổ sung "mũi tàu Đại Tây Dương", vốn hoàn tất vào [[tháng 8]] năm [[1939]]. Trong đợt tái trang bị, nó được bổ sung một hầm chứa máy bay lớn giữa tàu. Chiếc tàu chiến mới rời xưởng tàu vào [[tháng 10]].<ref name=G&D154/>
 
Vào ngày [[21 tháng 11]], ''Scharnhorst'', ''Gneisenau'', các [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] [[Köln (tàu tuần dương Đức)|''Köln'']] và [[Leipzig (tàu tuần dương Đức)|''Leipzig'']] cùng nhiều [[tàu khu trục]] tiến hành một cuộc càn quét giữa [[Iceland]] và [[quần đảo Faroe]]; trong đó các tàu chiến Đức đã đụng độ với [[tàu buôn tuần dương vũ trang]] Anh [[HMS Rawalpindi|HMS ''Rawalpindi'']]. ''Scharnhorst'' đã đánh chìm tàu đối phương, nhưng cũng trúng phải một phát đạn pháo 152 &nbsp;mm của ''Rawalpindi''.<ref name=G&D154>Garzke & Dulin, trang 154</ref> ''Scharnhorst'' dừng lại để vớt những người sống sót, nhưng sự xuất hiện của tàu tuần dương [[HMS Newcastle (C76)|HMS ''Newcastle'']] đã buộc các tàu chiến Đức phải rút lui.<ref>Garzke & Dulin, trang 134</ref>
 
=== Chiến dịch Weserübung ===
Vào ngày [[7 tháng 4]] năm [[1940]], ''Scharnhorst'' và ''Gneisenau'' đã hình thành nên lực lượng hỗ trợ chủ yếu cho cuộc chiếm đóng [[Narvik]] và [[Trondheim]] tại [[Na Uy]] trong quá trình [[Chiến dịch Weserübung]]. Lúc 04 giờ 30 phút ngày [[9 tháng 4]], radar ''Seetakt'' trên chiếc ''Gneisenau'' dò được một đối tượng, và cả hai chiếc được lệnh bước vào vị trí tác chiến. Nữa giờ sau, mục tiêu được xác định là chiếc [[tàu chiến-tuần dương]] cũ [[HMS Renown (1916)|HMS ''Renown'']], vốn nằm trong thành phần hỗ trợ cho một hoạt động [[Chiến dịch Wilfred|rải mìn]] của Anh Quốc. Chiếc tàu chiến-tuần dương Anh thoạt tiên nhắm vào ''Gneisenau'' ở khoảng cách {{convert|11800|m|yd|abbr=on}}. Trong vòng năm phút, ''Gneisenau'' bắn trúng ''Renown'' hai phát, nhưng cũng bị đáp trả hai phát, một phát làm hư hại tháp pháo phía sau của ''Gneisenau'',<ref name=G&D135>Garzke & Dulin, trang 135</ref> trong khi phát kia làm hư hại bộ radar ''Seetakt'' của nó.<ref>Jackson, trang 23</ref> Radar điều khiển hỏa lực của ''Scharnhorst'' gặp trục trặc kỹ thuật, ngăn trở nó có thể đối đầu hiệu quả với ''Renown''. Chiếc tàu chiến Anh đụng độ với ''Scharnhorst'' một lúc ngắn bắt đầu từ 05 giờ 18 phút, cho dù các cú cơ động hiệu quả đã giúp ''Scharnhorst'' né tránh không bị bắn trúng. E ngại các tàu khu trục tháp tùng theo ''Renown'' có thể mở cuộc tấn công bằng ngư lôi, chỉ huy Đức ra lệnh rút lui khỏi trận chiến.<ref name=G&D135/> Đến 07 giờ 15 phút, các tàu chiến Đức đã thoát khỏi chiếc ''Renown'' vốn có tốc độ chậm hơn.<ref name=G&D154/> Trên đường rút lui, ''Scharnhorst'' chịu đựng hư hại ở tháp pháo "A" do nước biển tràn mạnh qua mũi tàu.<ref name=G&D154/> ''Scharnhorst'' và ''Gneisenau'' gặp gỡ [[tàu tuần dương hạng nặng]] [[Admiral Hipper (tàu tuần dương Đức)|''Admiral Hipper'']] trước khi tiếp tục đi đến Wilhelmshaven.<ref name=G&D157>Garzke & Dulin, trang 157</ref>
 
''Scharnhorst'' và ''Gneisenau'', cùng với ''Admiral Hipper'' và bốn tàu khu trục, lại lên đường vào ngày [[4 tháng 6]]. Sau các hoạt động tại [[Bắc Hải]] mang lại kết quả đánh chìm nhiều tàu vận tải Anh, ''Admiral Hipper'' và các tàu khu trục được cho tách ra để tiếp nhiện liệu tại Na Uy bị chiếm đóng. Lúc 16 giờ 45 phút ngày [[8 tháng 6]], ''Scharnhorst'' và ''Gneisenau'' phát hiện [[tàu sân bay]] Anh [[HMS Glorious (77)|HMS ''Glorious'']], được các tàu khu trục [[HMS Acasta (H09)|HMS ''Acasta'']] và [[HMS Ardent (H41)|HMS ''Ardent'']] hộ tống, ở khoảng cách {{convert|50000|m|yd|abbr=on}}. Các tàu khu trục thả một màn khói trong một nỗ lực nhằm che khuất chiếc tàu sân bay, nhưng các tàu chiến Đức nhanh chóng thu ngắn khoảng cách.<ref name=G&D137>Garzke & Dulin, trang 137</ref> Lúc 17 giờ 26 phút, khoảng cách giữa hai bên đã được thu ngắn còn một nữa, khoảng {{convert|25000|m|yd}}, và cả hai chiếc tàu Đức nổ súng. ''Scharnhorst'' bắn trúng ''Glorious'' ở một cự ly khoảng {{convert|24200|m|yd|abbr=on}}, một trong những phát bắn trúng xa nhất được ghi nhận trong suốt lịch sử hải chiến.<ref name=Navweaps28/><ref group=Note"Ghi chú">Thiết giáp hạm Anh [[HMS Warspite (03)|''Warspite'']] từng bắn trúng một phát đạn pháo vào thiết giáp hạm Ý [[Giulio Cesare (thiết giáp hạm Ý)|''Giulio Cesare'']] trong [[trận Calabria]] vào năm 1940 ở một khoảng cách cũng tương đương như vậy.</ref> ''Glorious'' bị bắn trúng ít nhất ba phát đạn pháo, biến thành một xác tàu cháy bừng; đến 19 giờ 00 nó lật úp và chìm. ''Scharnhorst'' chuyển hỏa lực sang chiếc ''Ardent'' trong khi ''Gneisenau'' nhắm vào ''Acasta''; cả hai đều tiêu diệt được mục tiêu của mình. Trước khi chìm, ''Acasta'' phóng bốn quả ngư lôi nhắm vào ''Scharnhorst''; con tàu Đức né tránh được ba nhưng quả thứ tư đánh trúng mạn phải gần tháp pháo phía sau. Trong suốt trận đánh, ''Scharnhorst'' đã bắn tổng cộng 212 quả đạn pháo chính.<ref name=G&D157/>
 
Quả ngư lôi đánh trúng đã gây hư hại đáng kể cho ''Scharnhorst'': nhiều ngăn kín nước, bao gồm một phần phòng động cơ bên mạn phải bị ngập nước, nó bị nghiêng 3°, và bị chìm xuống {{convert|3|m|ft|abbr=on}} ở phần đuôi.<ref name=G&D157/> Hai con tàu Đức rút lui về Trondheim, cho dù ''Scharnhorst'' bị giới hạn ở tốc độ {{convert|20|kn}}, chúng đến nơi vào trưa ngày [[9 tháng 6]]. Vào ngày [[11 tháng 6]], 12 [[máy bay ném bom]] [[Lockheed Hudson]] của [[Không quân Hoàng gia Anh]] tìm cách ném bom ''Scharnhorst''; tất cả đều trượt khỏi mục tiêu. Một cuộckhông kích khác, lần này là bởi 15 chiếc [[Blackburn Skua]] xuất phát từ tàu sân bay [[HMS Ark Royal (91)|HMS ''Ark Royal'']] của [[Hải quân Hoàng gia Anh]], tiếp nối vào ngày [[13 tháng 6]]. Máy bay [[Không quân Đức]] (''Luftwaffe'') đã đánh chặn và bắn rơi tám máy bay tấn công; nhưng số còn lại đã vượt qua được hàng rào phòng thủ, một quả bom đã ném trúng đích, nhưng nó không phát nổ. Đến ngày [[20 tháng 6]], công việc sửa chữa tạm thời đã đủ cho phép con tàu lên đường quay trở về Kiel. Hai đợt không kích khác đuổi theo, nhưng hỏa lực phòng không của ''Scharnhorst'' và các tàu hộ tống đã ngăn chặn được chúng. Các báo cáo về sự hiện diện của tàu chiến Anh trong khu vực đã buộc nó phải ẩn náu tại [[Stavanger]] trong hai ngày trước khi tiếp tục hành trình đến Kiel. Công việc sửa chữa được tiến hành trong sáu tháng tiếp theo.<ref name=G&D158>Garzke & Dulin, trang 158</ref>
 
=== Chiến dịch Berlin ===
Dưới sự chỉ huy của Đô đốc [[Günther Lütjens]], ''Scharnhorst'' và ''Gneisenau'' [[Chiến dịch Berlin|xâm nhập]] ra [[Đại Tây Dương]] vào [[tháng 1]] năm [[1941]] để đánh phá các đoàn tàu vận tải đi lại giữa Bắc Mỹ và Anh Quốc.<ref name=G&D140>Garzke & Dulin, trang 140</ref> Vào ngày [[8 tháng 2]], chúng phát hiện [[Đoàn tàu vận tải HX 106]], nhưng nó được hộ tống bởi thiết giáp hạm [[HMS Ramillies (07)|HMS ''Ramillies'']], trang bị tám pháo 38 &nbsp;cm (15 &nbsp;inch); vì vậy các tàu chiến Đức từ bỏ cuộc tấn công.<ref name=G&D140/> Một đoàn tàu vận tải thứ hai được tìm thấy vào ngày [[22 tháng 2]]; ''Scharnhorst'' đánh chìm tàu chở dầu ''Lustrous'',<ref name=G&D158/> trong khi ''Gneisenau'' tiêu diệt bốn tàu chở hàng.<ref name=G&D140/> Đến ngày [[8 tháng 3]], ''Scharnhorst'' trông thấy một đoàn tàu vận tải khác, nhưng nó lại được thiết giáp hạm bảo vệ, lần này là bởi [[HMS Malaya (1915)|HMS ''Malaya'']]. Một tuần lễ sau, [[15 tháng 3]], một đoàn tàu vận tải khác bị đánh chặn; ''Scharnhorst'' đánh chìm hai chiếc<ref name=G&D158/> trong khi ''Gneisenau'' chiếm giữ ba và đánh chìm một.<ref>Garzke & Dulin, trang 142</ref> Sau trận đánh, ''Scharnhorst'' và ''Gneisenau'' hướng đến [[Brest, Pháp|Brest]] trong vùng đất Pháp bị chiếm đóng; chúng đến nơi vào ngày [[22 tháng 3]].<ref name=G&D158/>
 
Ngày [[6 tháng 4]], bốn [[máy bay ném ngư lôi]] [[Bristol Beaufort]] đã tấn công ''Gneisenau'' trong cảng; chỉ có một chiếc máy bay thành công, nhưng phát đánh trúng duy nhất này đã gây hư hại đáng kể cho con tàu. ''Gneisenau'' bị ngập khoảng {{convert|3050|MT}} nước, làm nó nghiêng 2° và chìm sâu hơn trong nước. Áp lực mạnh của vụ nổ cũng gây ra nhiều hư hỏng cấu trúc bên trong; các thùng nhiên liệu bị vỡ và hệ thống điện bị hư hại. Một tàu kéo cứu hộ được cho cặp bên mạn để trợ giúp vào việc kiểm soát ngập nước. ''Gneisenau'' được đưa vào ụ tàu để sửa chữa, và công việc bị kéo dài do có thêm các cuộc không kích khác của Anh. Trong đêm [[9 tháng 4|9]]-[[10 tháng 4]], máy bay ném bom tầm cao Anh đã tấn công ''Gneisenau'' lẫn ''Scharnhorst''; chiếc sau thoát được mà không bị hư hại, nhưng chiếc thứ nhất bị đánh trúng bốn lần khiến 72 người thiệt mạng và thêm 90 người khác bị thương.<ref>Garzke & Dulin, trang 143-144</ref>
 
Trong khi ở trong ụ tàu tại [[La Pallice]] vào ngày [[24 tháng 7]], ''Scharnhorst'' bị nhiều phi đội máy bay ném bom [[Handley Page Halifax]] tấn công; năm quả bom đã trúng đích, bao gồm hai quả bom miểng {{convert|227|kg|lb|abbr=on}} và hai quả bom bán xuyên thép {{convert|454|kg|lb|abbr=on}}.<ref name=G&D159>Garzke & Dulin, trang 159</ref> Hai quả bom 454 &nbsp;kg đã xuyên thủng được cả hai sàn tàu bọc thép xuống đến tận đáy tàu kép, tuy nhiên chúng đã không phát nổ. Quả thứ ba cũng bị tịt ngòi. Một quả bom 227 &nbsp;kg xuyên qua sàn phía trên ngay phía trước tháp pháo phía sau, và đã phát nổ trên sàn bọ thép chính.<ref name=G&D160>Garzke & Dulin, trang 160</ref> Quả bom cuối cùng rơi bên mạn phải và cũng phát nổ trên sàn bọc thép chính.<ref name=G&D159/> Con tàu bị nghiêng 8° sau khi bị tràn từ {{convert|1520|LT|ST}} đến {{convert|3050|LT|ST}} nước, với thương vong gồm hai người chết và 15 người khác bị thương. Ngày hôm sau ''Scharnhorst'' đi đến Brest để sửa chữa, vốn kéo dài đến bốn tháng.<ref name=G&D160/>
 
=== Chiến dịch Cerberus===
 
==== Trận chiến mũi North ====
Vào ngày [[20 tháng 12]] năm [[1943]], ''Scharnhorst'' được lệnh đánh chặn đoàn tàu vận tải đi đến Liên Xô tiếp theo, đoàn JW 55B.<ref>Sandler trang 144</ref> Nó chỉ hoạt động phối hợp với năm tàu khu trục; ''Tirpitz'' bị hư hại tronng một cuộc không kích của Anh vào [[tháng 9]], và ''Lützow'' đang được gửi đi sửa chữa định kỳ.<ref name=S&G198>Stephen & Grove, trang 198</ref> Ngày [[25 tháng 12]], vị trí của đoàn tàu vận tải được xác định, và vào 19 giờ 00 con tàu rời cảng dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Đô đốc [[Erich Bey]]. Tuy nhiên, hạm đội Anh có được một ưu thế đáng kể: họ có khả năng giải được các bộ mật mã của Hải quân Đức, nên họ biết rõ ý định của Bey.<ref>Garzke & Dulin, trang 165</ref> Các tàu tuần dương [[HMS Sheffield (C24)|HMS ''Sheffield'']], [[HMS Belfast (C35)|HMS ''Belfast'']] và [[HMS Norfolk (78)|HMS ''Norfolk'']] được bố trí để ngăn chặn ''Scharnhorst''. Đô đốc [[Bruce Fraser, Nam tước thứ nhất Fraser của North Cape|Bruce Fraser]] bên trên thiết giáp hạm [[HMS Duke of York (17)|HMS ''Duke of York'']] ở cách đó khoảng 270 hải lý, đang tiến đến để chặn đường rút lui của ''Scharnhorst'' sau khi nó đối đầu với ba tàu tuần dương Anh. Ngày [[26 tháng 12]], ''Belfast'' bắt được tín hiệu của ''Scharnhorst'' trên màn hình radar lúc 08 giờ 40 phút; và 40 phút sau trinh sát viên trên ''Sheffield'' trông thấy con tàu ở khoảng cách {{convert|11000|m|yd|abbr=on}}. Không lâu sau đó, ''Belfast'' bắn [[đạn pháo sá́ng]] để chiếu rõ mục tiêu, và ''Norfolk'' khai hỏa các khẩu pháo 20,3 &nbsp;cm (8 &nbsp;inch) của nó; trong vòng 20 phút nó đã bắn trúng ''Scharnhorst'' hai phát,<ref>Garzke & Dulin, trang 165-166</ref> phát trúng thứ hai đã phá hủy bộ radar [[radar Seetakt|''Seetakt'']] phía trước của ''Scharnhorst''.<ref>Stephen & Grove, trang 206</ref>
[[Tập tin:Scharnhorst survivors A 021202.jpg|thumb|right|Những người sống sót của ''Scharnhorst'' đang lên bờ tại [[Scapa Flow]]]]
Đến 10 giờ 00, ''Scharnhorst'', sử dụng lợi thế nhanh hơn về tốc độ 4–6 knot, bứt ra khỏi cuộc chiến để tiếp tục truy tìm đoàn tàu vận tải. Đến 12 giờ 00, ''Belfast'' lại phát hiện được ''Scharnhorst'', và sau 20 phút lại tiếp tục trong tầm bắn pháo.<ref>Garzke & Dulin, trang 169</ref> Lần này, ''Scharnhorst'' may mắn hơn trong các loạt đạn pháo; đến 12 giờ 23 phút, ''Norfolk'' bị bắn trúng hai phát đạn pháo 28,3 &nbsp;cm. Một phát vô hiệu hóa một tháp pháo, và phát kia làm thủng lườn tàu một lổ lớn và làm hỏng radar. Các phát đạn bắn suýt trúng đã tung cơn mưa mảnh đạn lên chiếc ''Sheffield''. Đến 12 giờ 41 phút, một lần nữa ''Scharnhorst'' tăng tốc và bứt ra khỏi cuộc chiến; nhưng các tàu chiến Anh vẫn tiếp tục dõi theo và báo cáo vị trí của nó cho Đô đốc Fraser trên chiếc ''Duke of York''. Lúc 13 giờ 15 phút, Đô đốc Bey quyết định hủy bỏ cuộc truy tìm và quay trở về cảng.<ref>Garzke & Dulin, trang 170</ref> Ngay trước 17 giờ 00, các tàu chiến Anh lại tiếp cận nó; ''Belfast'' một lần nữa lại chiếu rọi mục tiêu bằng đạn pháo sáng, trong khi ''Duke of York'' khai hỏa với dàn pháo chính của nó. Một phát bắn trúng từ chiếc ''Duke of York'' đã vô hiệu hóa tháp pháo "A", rồi đến 18 giờ 00, một phát bắn trúng khác đã xuyên thủng phần trên của đai giáp, gây hư hại đáng kể cho phòng động cơ. Phát bắn trúng đã tạm thời làm giảm tốc độ của nó xuống còn {{convert|8|kn|abbr=on}}, cho dù việc sửa chữa nhanh cho phép nó lại có thể di chuyển ở tốc độ {{convert|22|kn|abbr=on}}.<ref>Garzke & Dulin, trang 172</ref>
 
Để đáp trả, đạn pháo 28 &nbsp;cm từ chiếc ''Scharnhorst'' đã bắn trúng cột ăn-ten của ''Duke of York'', vô hiệu hóa bộ radar dò tìm mặt biển. Việc không có radar buộc ''Duke of York'' phải ngừng bắn lúc 18 giờ 24 phút, sau khi đã bắn trúng ''Scharnhorst'' ít nhất 13 lần.<ref>Stephen & Grove, trang 213</ref> Những phát bắn trúng từ chiếc ''Duke of York'' đã loại khỏi vòng chiến hầu hết dàn vũ khí của ''Scharnhorst''. Đô đốc Fraser ra lệnh cho các tàu khu trục của ông tiếp cận để phóng ngư lôi vào nó. ''Scharnhorst'' trúng ít nhất bốn quả ngư lôi phóng từ các chiếc [[HMS Scorpion (1942)|HMS ''Scorpion'']] và [[HNoMS Stord (G26)|HNoMS ''Stord'']]. Các cú đánh trúng đã gây ngập nước lan rộng và làm giảm tốc độ con tàu xuống còn {{convert|12|kn|abbr=on}}. ''Duke of York'' sau đó tiến đến gần ở cự ly {{convert|9100|m|yd|abbr=on}} để nả pháo xuống con tàu. Vào lúc đó, chỉ còn tháp pháo "C" của ''Scharnhorst'' còn hoạt động; các pháo thủ còn sống sót chuyển đạn từ các tháp pháo bị vô hiệu "A" và "B" sang tháp pháo "C". Do bị tràn thêm nhiều nước, tốc độ của ''Scharnhorst'' tiếp tục giảm còn {{convert|5|kn|abbr=on}}.<ref>Garzke & Dulin, trang 173-174</ref> Đến 19 giờ 25 phút, tàu tuần dương hạng nhẹ [[HMS Jamaica (44)|HMS ''Jamaica'']] phóng ba ngư lôi, rồi được tiếp nối với sáu quả từ chiếc ''Belfast''. Nhiều tàu khu trục cũng tiếp cận và phóng ngư lôi, mặc dù trong màn khói và sương mù, không thể biết rõ có bao nhiêu quả đã trúng đích và tiếp tục hủy hoại con tàu. ''Scharnhorst'' bị nghiêng nặng, và đến 19 giờ 45 phút, con tàu lật sang mạn phải và chìm trong khi chân vịt của nó còn tiếp tục quay.<ref>Garke & Dulin, trang 175</ref> Nó chìm ở tọa độ {{Coord|72|16|0|N|28|41|0|E|}}. Trong tổng số 1.968 sĩ quan và thủy thủ, chỉ có 36 người sống sót.<ref>Garzke & Dulin, trang 176</ref> Chuẩn Đô đốc Erich Bey mất cùng với con tàu của mình.<ref>{{Chú thích sách | last= Grove | first= Eric | title= German Capital Ships and Raiders in World War II: From Scharnhorst to Tirpitz, 1942-1944 | year=2002 | publisher= Routledge | isbn=0714652830 | pages=30}}</ref>
 
=== Tái cấu trúc ''Gneisenau'' ===
[[Tập tin:Gneisenau-1.jpg|thumb|right|Tháp pháo "C" của ''Gneisenau'' tại Na Uy]]
''Gneisenau'' cũng được dự định để bố trí đến Na Uy, nhưng nó đã bị hư hại nặng trong một cuộc không kích vào đêm [[26 tháng 2|26]]–[[27 tháng 2]] năm [[1942]]. Một quả bom 454 &nbsp;kg đã xuyên thủng sàn tàu bọc thép ngay phía trước tháp pháo phía trước, các mảnh đạn đã kích nổ hầm đạn, gây hư hại nặng nề mũi con tàu và làm nổ tung tháp pháo "A"; 112 người chết và thêm 21 người khác bị thương. Người ta ước lượng phải mất đến hai năm mới có thể đưa nó trở lại hoạt động.<ref>Garzke & Dulin, trang 149-150</ref> Vì đây là một khoảng thời gian dài, sẽ hiệu quả hơn nếu như trong thời gian sửa chữa, con tàu sẽ được tái cấu trúc để mang sáu khẩu pháo 38 &nbsp;cm (15 &nbsp;inch) thay cho kiểu vũ khí 28,3 &nbsp;cm. Để đạt được điều này, lườn tàu cần phải được kéo dài thêm {{convert|10|m|ft|abbr=on}} để cung cấp thêm độ nổi cần thiết, và hệ thống điện cũng cần được đại tu. Các tháp pháo "B" và "C" được tháo dỡ và chuyển đến Na Uy để phục vụ như là pháo phòng thủ duyên hải.<ref>Garzke & Dulin, trang 150-151</ref>
 
Vào ngày [[4 tháng 4]], cùng với [[tàu phá băng]] ''Castor'' và thiết giáp hạm tiền-dreadnought cũ [[SMS Schlesien|SMS ''Schlesien'']], ''Gneisenau'' rời Kiel đi đến Gdynia. Tại đây công việc cải biến được bắt đầu: mũi tàu hư hại được tháo bỏ, tháp pháo "B" và "C" được tháo dỡ và tháo rời để chuyển đi. Krupp sẽ chế tạo các tháp pháo 38 &nbsp;cm mới, vốn đòi hỏi phải gia cường cấu trúc bệ tháp pháo để chịu đựng sức nặng của chúng. Vào đầu năm [[1943]], việc sửa chữa đã hầu như hoàn tất và con tàu đã sẵn sàng để tiếp nhận mũi tàu được cải tiến và các tháp pháo 38 &nbsp;cm, nhưng điều này đã không được thực hiện. Sự thất bại của các đơn vị hạm tàu nổi trong việc ngăn chặn và tiêu diệt một đoàn tàu vận tải tại Bắc Cực vào ngày [[31 tháng 12]] năm [[1942]] đã khiến Hitler ra lệnh tháo dỡ mọi tàu chiến chủ yếu. Công việc trên chiếc ''Gneisenau'' bị dừng lại, các vật liệu dành cho việc sửa chữa nó được chuyển cho các dự án khác.<ref>Garzke & Dulin, trang 151-153</ref>
 
Con tàu được tháo dỡ mọi vũ khí và bị bỏ xó tại cảng.<ref name=G&D153>Garzke & Dulin, trang 153</ref> Các khẩu pháo 15 &nbsp;cm của nó được đặt làm pháo phòng duyên tại Đan Mạch.<ref name=Navweaps15/> Khi quân đội Xô-Viết tiến đến gần vào năm [[1945]], con tàu được kéo ra phía ngoài cảng và bị đánh chìm như một [[tàu ụ cản]] vào ngày [[23 tháng 3]] năm [[1945]].<ref name=G&D153/> Sau chiến tranh, một hãng trục vớt Ba Lan đã cho nổi lại xác tàu vào ngày [[12 tháng 9]] năm [[1951]] rồi sau đó cho tháo dỡ lấy sắt vụn. Tháp pháo "C" tiếp tục ở lại Trondheim, Na Uy; chính phủ Na Uy đã không thành công trong dự định hoàn trả tháp pháo về Đức để trưng bày trong một bảo tàng.<ref name=Groner32/> Các khẩu pháo 15 &nbsp;cm tại Đan Mạch được chuyển cho quân đội nước này; hai tháp pháo được chuyển đến pháo đài Stevnsfort vào năm [[1952]]. Các khẩu pháo được đưa về lực lượng dự bị vào năm [[1984]], mặc dù chúng được tiếp tục bắn trong các đợt huấn luyện hàng năm. Chúng bắn những phát đạn pháo sau cùng vào năm [[2000]], trước khi pháo đài được chuyển thành một bảo tàng.<ref name=Navweaps15/>
 
== Xem thêm ==
==Tham khảo==
===Ghi chú===
{{Reflist|group=Note"Ghi chú"}}
 
===Chú thích===
* {{Cite book|editor1-last=Sturton|editor1-first=Ian|title=Conway's All the World's Battleships: 1906 to the Present|year=1987|location=London|publisher=Conway Maritime Press|isbn=0851774482|oclc=246548578}}
* {{Cite book |last=Vandervat|first=Dan|title=The Atlantic campaign|year=1988|location=New York|publisher=Harper & Row|isbn=9780060159672|oclc=}}
 
 
 
{{Lớp thiết giáp hạm Scharnhorst}}
{{link GA|en}}
 
[[thểThể loại:Lớp thiết giáp hạm]]
[[thểThể loại:Lớp tàu chiến-tuần dương]]
[[thểThể loại:Lớp thiết giáp hạm Scharnhorst]]
[[thểThể loại:Thiết giáp hạm của Đức]]
[[thểThể loại:Thiết giáp hạm trong Thế Chiến II]]
 
[[cs:Třída Scharnhorst (1936)]]
72.718

lần sửa đổi