Khác biệt giữa các bản “Plutoni”

n
clean up, replaced: group=note → group="Ghi chú" (2) using AWB
n (r2.6.4) (Bot: Thêm vep:Plutonii)
n (clean up, replaced: group=note → group="Ghi chú" (2) using AWB)
|publisher = Barnes & Noble Publishing}}</ref> Trong quá trình phân hạch, một phần [[năng lượng lên kết]] được giải phóng ở dạng nhiệt, điện từ và động năng mal; mộ kg plutoni-239 có thể tạo ra một vụ nổ tương đương với 20.000&nbsp;tấn thuốc nổ [[Trinitrotoluen|TNT]].<ref name = "Heiserman1992"/> Do tạo ra nguồn năng lượng khổng lồ nên plutoni-239 được ứng dụng làm [[vũ khí hạt nhân]] và được dùng trong [[lò phản ứng hạt nhân|lò phản ứng]].
 
Việc có mặt đồng vị [[plutoni-240]] trong mẫu sẽ làm giới hạn khả năng của bom hạt nhân, vì plutoni-240 có tốc độ [[phân hạch tự phát]] tương đối cao (~440 phân hạch một giây/1gram1&nbsp;gram sinh ra hơn 1.000 neutron/giây/gram<ref>Samuel Glasstone and Leslie M. Redman, ''[http://www.doeal.gov/opa/docs/RR00171.pdf An Introduction to Nuclear Weapons]'' (Atomic Energy Commission Division of Military Applications Report WASH-1038, June 1972), p. 12.</ref>) nên sẽ làm tăng mức neutron ban đầu và làm tăng nguy cơ đạt đến trang thái siêu tới hạn cực nhanh mà chưa đạt đến trạng thái tối đa của một chuỗi phản ứng dây chuyền cần thiết.<ref>
{{cite book
|title = The Manhattan Project: Making the Atomic Bomb
|}
 
[[Americi-241]], sản phẩm phân rã của plutoni-241, có chu kỳ bán rã 430 năm, 1,2 phân hạch tự phát/1 &nbsp;gram/1 giây, và nhiệt phân rã là 114 watt/kg. Khi phân rã nó phát ra các tia gamma có khả năng đâm xuyên mạnh. Sự có mặt của nó trong plutoni, xác định theo hàm lượng ban đầu của plutoni-241, được xem là làm tăng nguy hiểm phơi nhiễm phóng xạ đối với các cấu túc xung quanh và con người.
 
=== Các hợp chất ===
[[Tập tin:Plutonium in solution.jpg|thumb|right|300px|Các trạng thái ôxy hóa của plutoni trong dung dịch|alt=Five liuids in glass bottles: violet, label Pu(III); dark brown, label Pu(IV)HClO4; light purple, label Pu(V); light brown, label Pu(VI); dark green, label Pu(VII).]]
Ở nhiệt độ phòng, plutoni nguyên chất có màu bạc nhưng sẽ chuyển sang màu xỉn khi bị ôxy hóa.<ref>{{harvnb|Heiserman|1992|p=339}}</ref> Plutoni có 4 trạng thái ôxy hóa phổ biến trong dung dịch gốc nước và một dạng hiềm gặp hơn gồm:<ref name = "CRC2006p4-27"/>
* Pu(III), ion Pu<sup>3+</sup> (oải hương lam)
}}</ref>
 
[[Tập tin:Hanford_B_ReactorHanford B Reactor.jpg|left|thumb|The Hanford [[B Reactor]] face under construction—the first plutonium-production reactor.|alt=A photo taken from a ceiling of a tall square industrial room. Cement walls have metal ladders and meshes. A dozen of people are engaged in some activities on the floor.]]
 
Lò phản ứng sản xuất đầu tiên tạo ra plutoni-239 là [[lò phản ứng than chì X-10]]. Nó đã được xây dựng năm 1943 ở cơ sở Oak Ridge mà sau đó trở thành [[Phòng thí nghiệm Oak Ridge]].<ref name = "Emsley2001"/><ref group = "note">Trong suốt dự án Manhattan, plutoni đôi khi cũng được nhắc đến với tên gọi "49": số 4 là số cuối của 94 (số nguyên tử của plutoni), và số 9 là số cuối của plutoni-239, đồng vị phân hạch cấp vũ khí đã được sử dụng làm bom hạt nhân.
Toàn bộ thiết kế vũ khí plutoni ở Los Alamos đã được thay đổi nhanh chóng sau đó để tạo ra một mẫu có khả năng nổ phức tạp hơn mang tên "[[Fat Man]]". Là vũ khí nổ nên một chất rắn [[plutonium pit|plutoni hình cầu]] đã được nén chặt với mật độ cao với các thấu kính nổ, nhưng cần thiết để dùng plutoni cho mục đích làm vũ khí.<ref name="AtomicTimeline"/>
 
Việc xây dựng [[lò phản ứng B]] ở Hanford, một lò phản ứng hạt nhân kích thước công nghiệp đầu tiên phục vụ việc sản xuất vật liệu, đã được hoàn thành vào tháng 3, 1945. Lò phản ứng B tạo ra vật liệu có khả năng phân hạch cho các vũ khí plutoni được sử dụng trong suốt chiến tranh thế giới thứ 2.<ref group=note"Ghi chú">Hiệp hội Kỹ sư cơ khí Hoa Kỳ (ASME) đã chọn lò phản ứng B là biểu tượng lịch sử của kỹ thuật cơ học Hoa Kỳ (''National Historic Mechanical Engineering Landmark'') tháng 9 năm 1976.
:{{cite book
|title = History of 100-B Area
 
===Sử dụng trong chiến tranh Lạnh và trở thành chất thải===
Các kho dự trữ plutoni cấp vũ khí lớn được cả [[Liên Xô]] và [[Hoa Kỳ]] xây dựng trong thời kỳ [[chiến tranh Lạnh]]]. Các lò phản ứng hạt nhân của Hoa Kỳ ở Hanford và [[Savannah River Site]] miền nam Carolina đã sảb xuất ra 103&nbsp;tấn,<ref>
{{cite book
|title = Historic American Engineering Record: B Reactor (105-B Building)
===Thí nghiệm y học===
{{See also|Thí nghiệm phóng xạ trên người}}
Trong và sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2, các nhà khoa học làm việc trong dự án Manhattan và các dự án nghiên cứu các vũ khí hạt nhân khác đã tiến hành nghiên cứu những ảnh hưởng của plutoni trên các động vật trong phòng thí nghiêm và trên con người.<ref name = "Injection"/> Các nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng vài gram plutoni/1 &nbsp;kg mô là một liều gây chết.<ref name="PuHealth"/><!-- Note: page 78 -->
 
Trong trường hợp trên con người, điều này liên quan đến việc bơm một dung dịch chứa 5 microgram (điểm hình) trên các bệnh nhân ở bệnh viện được cho là hoặc bệnh nhân đã vào giai đoạn cuối của đợt điều trị hoặc có thời gian sống còn lại dưới 10 năm tùy thuộc vào tuổi hoặc tình trạng bệnh mãn tính.<ref name = "Injection"/> Liều tiêm này giảm 1 microgram vào tháng 7 năm 1945 sau khi các nghiên cứu trên động vật cho thấy rằng cái cách mà plutoni phân bố trong xương lại nguy hiểm hơn so với [[radi]].<ref name="PuHealth">{{cite journal
 
== Ghi chú ==
{{Reflist|group=note"Ghi chú"}}
 
== Tham khảo ==
{{Công nghệ hạt nhân}}
{{bảng tuần hoàn thu gọn}}
 
{{Liên kết bài chất lượng tốt|de}}
 
{{Liên kết bài chất lượng tốt|fi}}
 
[[Thể loại:Nguyên tố hóa học]]
[[Thể loại:Nguyên tố tổng hợp]]
 
{{Liên kết bài chất lượng tốt|de}}
{{liên kết chọn lọc|en}}
{{Liên kết bài chất lượng tốt|fi}}
 
[[ar:بلوتونيوم]]
[[az:Plutonium]]
[[uk:Плутоній]]
[[ur:پلوٹونیئم]]
[[ug:پلوتونىي]]
[[vep:Plutonii]]
[[ug:پلوتونىي]]
[[war:Plutonyo]]
[[yo:Plutonium]]
72.718

lần sửa đổi