Khác biệt giữa các bản “Nassau (lớp thiết giáp hạm)”

n
clean up, replaced: group=Note → group="Ghi chú" (8) using AWB
n (r2.7.1) (robot Thêm: tr:Nassau sınıfı zırhlı)
n (clean up, replaced: group=Note → group="Ghi chú" (8) using AWB)
|Ship aircraft=
|Ship aircraft facilities=
|Ship notes= Đáy kép: 88%<br/>Ngăn kín nước: 19<ref group=Note"Ghi chú">''Nassau'' chỉ có 16 ngăn kín nước.</ref>
}}
|}
== Thiết kế ==
=== Việc phát triển ===
Vào năm [[1906]], việc đưa vào hoạt động chiếc thiết giáp hạm "toàn-súng-lớn" [[HMS Dreadnought (1906)|''Dreadnought'']] đã khiến mọi thiết giáp hạm đang hiện hữu trở nên lạc hậu. Trong Bản Tu chính Hải quân Thứ nhất dành cho [[Đạo luật Hải quân Đức|Đạo luật Hải quân Đức năm 1900]] được thông qua vào năm [[1906]] trước khi ''Dreadnought'' được hạ thủy, Đô đốc [[Alfred von Tirpitz]] thoạt tiên yêu cầu sáu [[thiết giáp hạm]] và sáu [[tàu tuần dương bọc thép]] mới,<ref group=Note"Ghi chú">[[Thiết giáp hạm tiền-dreadnought|Thiết giáp hạm]] vào thời đó mang vỏ giáp dày và một dàn pháo chính gồm bốn khẩu pháo cỡ lớn, tiêu biểu là 11 inch (280 mm) hay lớn hơn. [[Tàu tuần dương bọc thép]] là những tàu nhỏ hơn, nhanh hơn; mang vỏ giáp mỏng hơn và cỡ pháo nhỏ hơn.</ref> cùng một số tàu tiện ích nhỏ. Việc hạ thủy chiếc ''Dreadnought'' mang tính cách mạng có nghĩa là mọi tàu chiến trong tương lai muốn cạnh tranh với nó sẽ đắt tiền hơn đáng kể so với những [[thiết giáp hạm tiền-dreadnought]] cũ hơn. Thái độ phản đối việc gia tăng ngân sách của [[Quốc hội Đế chế Đức]] buộc Tirpitz phải giảm bớt yêu cầu của mình còn sáu tàu tuần dương bọc thép, trong đó một chiếc được đặt trong tình trạng dự bị, và 48 [[tàu phóng lôi]], loại bỏ hoàn toàn yêu cầu đóng thiết giáp hạm mới; yêu cầu đã giảm bớt này được thông qua vào ngày [[19 tháng 5]] năm [[1906]]. Tuy nhiên, một tuần sau khi tu chính luật được thông qua, ngân khoản dành cho hai thiết giáp hạm tải trọng 18.000 tấn và một tàu tuần dương bọc thép tải trọng 15.000 tấn được cấp cho Hải quân. Ngân quỹ cũng được cấp cho việc mở rộng [[kênh đào Kaiser Wilhelm]] và nâng cấp các cơ sở ụ tàu để thu nhận những con tàu lớn hơn.<ref name="Conways134">{{harvnb|Gardiner|1984|p=134}}</ref>
 
Một cuộc tranh luận nổ ra tại Văn phòng Hải quân (''Reichsmarineamt'') trong việc chế tạo các con tàu mới. Tirpitz chuộng việc theo đuổi [[Hải quân Hoàng gia Anh]] bằng cách cũng chế tạo [[thiết giáp hạm dreadnought]] và [[tàu chiến-tuần dương]]; ông xem đây là một cơ hội để phá vỡ chính sách "tiêu chuẩn hai thế lực" của Anh.<ref group=Note"Ghi chú">Anh Quốc theo đuổi chính sách xây dựng một thế lực hải quân có quy mô lớn hơn hai đối thủ kế tiếp hợp lại. Xem: Gardiner và Gray, trang 134</ref> Tirpitz cũng có ý định sử dụng ngân sách dành cho tàu tuần dương bọc thép để chế tạo tàu chiến-tuần dương thay thế, cho dù chúng vẫn phải được xếp loại như tàu tuần dương bọc thép.<ref name="Conways134"/>
 
''Nassau'' và ''Westfalen'' là những thiết giáp hạm dreadnought đầu tiên được đặt hàng trong chương trình chế tạo [[1906]]–[[1907]]; tàu tuần dương bọc thép [[SMS Blücher|''Blücher'']] cũng được đặt hàng chung với chúng.<ref name="Conways145"/><ref>{{harvnb|Gardiner|1984|p=150}}</ref> Bản Tu chính Hải quân Thứ hai được thông qua vào ngày [[27 tháng 3]] năm [[1908]]; bao gồm một ngân khoản 1 tỉ [[Mark vàng Đức|mark]], và cho phép giảm tuổi đời hoạt động của thiết giáp hạm từ 25 năm xuống còn 20 năm. Điều này có hiệu lực đưa đến việc cần thay thế các [[hải phòng hạm]] thuộc các lớp [[Siegfried (lớp hải phòng hạm)|''Siegfried'']] và [[Oldenburg (lớp hải phòng hạm)|''Oldenburg'']] cũng như các thiết giáp hạm tiền-dreadnought thuộc [[Brandenburg (lớp thiết giáp hạm)|lớp ''Brandenburg'']].<ref>{{harvnb|Gardiner|1984|p=135}}</ref> Lớp [[tàu frigate]] bọc thép [[Sachsen (lớp tàu frigate)|''Sachsen'']] (được đưa ra sử dụng vào cuối những năm [[1870]]) cũng cần được thay thế, vì chúng rõ ràng đã lạc hậu cho dù dưới tiêu chuẩn 25 năm. Bốn chiếc lớp ''Sachsen'' được thay thế bởi lớp ''Nassau''. Cặp tàu thứ hai trong lớp ''Nassau'': ''Posen'' và ''Rheinland'', được đặt hàng trong chương trình chế tạo [[1907]]–[[1908]].<ref name="Conways145"/>
Hải quân Đức đã chậm trễ trong việc áp dụng kiểu [[động cơ turbine hơi nước]] Parsons tiên tiến vốn đã được trang bị cho chiếc ''Dreadnought'', chủ yếu là do sự phản đối của cả Đô đốc von Tirpitz lẫn Bộ phận Thiết kế Hải quân; cơ quan này vào năm [[1905]] đã khẳng định "bản thân việc sử dụng động cơ turbine cho tàu chiến hạng nặng không được khuyến cáo."<ref>{{harvnb|Herwig|1980|p=59-60}}</ref> Vì vậy lớp ''Nassau'' giữ lại loại [[động cơ hơi nước ba buồng bành trướng đặt dọc]] đã lạc hậu công suất 22.000 [[mã lực]];<ref name="Groner23"/> mỗi trục trong số ba trục động cơ vận hành một [[chân vịt]] 3 cánh đường kính {{convert|5|m|ftin|abbr=on}}; được thiết kế để đạt được tốc độ tối đa 19,5 knot (hải lý mỗi giờ).<ref name="Conways145"/> Khi chạy thử máy, các con tàu đạt được tốc độ 20 đến 20,2 knot ở công suất 26.224 – 28.117 mã lực.<ref name="Conways145"/> Để so sánh, động cơ tubine của ''Dreadnought'' đạt được tốc độ 21 knot.<ref>{{harvnb|Gardiner|1984|p=21}}</ref>
 
Hơi nước được cung cấp bởi 12 nồi hơi Schulz-Thornycroft,<ref name="Conways145"/> mỗi chiếc có 2 lò đốt, lên đến tổng cộng 24 lò. Hệ thống động lực được phân thành ba phòng động cơ và sáu phòng nồi hơi.<ref name="Conways145"/> Các tháp pháo bên mạn và hầm đạn của chúng lại tiếp tục phân hệ thống động lực thành ba nhóm, nhờ vậy gia tăng khả năng sống sót.<ref name="Janes"/> Các con tàu chở theo 2.700 tấn [[than]]; sau này được cải biến để chở thêm 160 tấn dầu, vốn sẽ được phun vào than trong lò đốt để làm tăng tốc độ cháy.<ref group=Note"Ghi chú">Do hoàn cảnh chiến tranh, Đức chỉ có nguồn cung cấp than đá chất lượng cao hạn chế, nhưng có thể cung cấp than đá phẩm chất thấp cho các con tàu của nó. Than chất lượng cao thường được dành cho các con tàu nhỏ, khi thủy thủ đoàn ít có khả năng tẩy sạch các nồi hơi khi yêu cầu này tăng cao do sử dụng than kém phẩm chất. Kết quả là các tàu chiến chủ lực Đức thường được cung cấp than kém phẩm chất, với ý định thủy thủ đoàn đông hơn đủ khả năng thực hiện việc bảo trì bổ sung cần thiết. Sau năm [[1915]], việc thực hành phun dầu lên than phẩm chất kém được áp dụng nhằm cải thiện tốc độ đốt. Xem Philbin, trang 56</ref> Điện năng cho con tàu được cung cấp bởi tám máy phát turbine, tạo ra công suất 1.280 kW điện xoay chiều 225 V.<ref name="Groner23"/>
 
=== Vũ khí ===
[[Tập tin:Nassau class main weapon.svg|thumb|right|Sơ đồ của lớp ''Nassau'', trình bày cách sắp xếp dàn pháo chính]]
Kiểu động cơ hơi nước ba buồng bành trướng đặt dọc chiếm dụng một khoảng lớn ở các ngăn bên trong vốn có thể dành cho các hầm đạn.<ref name="Breyer, p. 263">{{harvnb|Breyer|1973|p=263}}</ref> Do không có đủ dung lượng hầm đạn để hỗ trợ các tháp pháo bắn thượng tầng bố trí theo trục dọc, các nhà thiết kế buộc phải phân bố sáu [[tháp pháo]] chính trên một hình lục giác khá bất thường.<ref name="Breyer, p. 263"/><ref group=Note"Ghi chú">Thiết giáp hạm dreadnought Anh đương thời bố trí ba trong số năm tháp pháo chính trên trục giữa, và hai tháp pháo còn lại bên mạn. Những chiếc của Hoa Kỳ và Nhật Bản có toàn bộ tháp pháo được bố trí trên trục giữa.</ref> Hai tháp pháo nòng đôi được đặt trước và sau, cùng hai tháp pháo mỗi bên mạn.<ref name="Conways140"/> Khi bắn trực tiếp ra phía trước hay phía sau, con tàu có thể huy động 6 khẩu pháo, và 8 nòng pháo cho mỗi bên mạn; khả năng về lý thuyết này tương đương với của chiếc ''Dreadnought'', nhưng lớp ''Nassau'' đòi hỏi bổ sung thêm hai khẩu pháo để đạt được.<ref name="Janes"/> Dù sao, người ta cân nhắc rằng cách sắp xếp này cung cấp một sự dự phòng pháo hạng nặng hữu ích được che chắn khỏi hỏa lực đối phương.<ref name="Breyer, p. 263"/>
 
Mỗi con tàu mang theo mười hai khẩu pháo [[Hải pháo 28 cm SK L/45|{{convert|28|cm|inch|sing=on}} SK L/45]].<ref group=Note>"Ghi chú">Trong thuật ngữ pháo của Hải quân Đế quốc Đức, "SK" (Schnelladekanone) cho biết là kiểu pháo nạp nhanh, trong khi L/45 cho biết chiều dài của nòng pháo. Trong trường hợp này, pháo L/45 có ý nghĩa 45 caliber, tức là nòng pháo có chiều dài gấp 45 lần so với đường kính trong. Xem: Grießmer, trang 177.</ref> Các tháp pháo bên mạn thuộc kiểu Drh LC/1906, tương tự như hai tháp pháo trên trục dọc của hai chiếc đầu tiên trong lớp ''Nassau'' và ''Westfalen''. Riêng ''Posen'' và ''Rheinland'' mang kiểu tháp pháo Drh LC/1907 trên trục dọc, có thân dài hơn so với thiết kế của LC/1906.<ref name="Conways140"/> Tháp pháo Drh LC/1906 và kiểu pháo 11 inch SK/L45 được thiết kế đặc biệt cho những chiếc dreadnought mới của Đức vào năm [[1907]]. Cả hai loại bệ pháo đều cho phép có góc nâng lên đến 20°, nhưng bệ LC/1907 cho phép hạ thấp thêm hai độ, xuống đến −8°.<ref name="Navweaps">{{cite web | last=DiGiulian | first=Tony | title=German 28 cm/45 (11") SK L/45 | url=http://www.navweaps.com/Weapons/WNGER_11-45_skc07.htm | publisher=Navweaps.com | date=19 April 2007 | accessdate=7 March 2009}}</ref> Hầm chứa thuốc phóng được đặt bên trên hầm chứa đầu đạn, ngoại trừ những tháp pháo đặt trên trục dọc của ''Nassau'' và ''Westfalen''.<ref name="Conways145"/> Các khẩu pháo bắn ra đầu đạn nặng {{convert|302|kg|lb|abbr=on}}, với liều thuốc phóng mồi trong bao vải lụa nặng {{convert|26|kg|lb|abbr=on}} và liều thuốc phóng chính trong vỏ đồng nặng {{convert|79|kg|lb|abbr=on}}.<ref name="Navweaps"/> Ở góc nâng tối đa, các khẩu pháo có thể bắn đến mục tiêu cách xa {{convert|20500|m|yd|abbr=on}} với [[lưu tốc đầu đạn]] là 855 m/s (2.805 f/s).<ref name="Conways140">{{harvnb|Gardiner|1984|p=140}}</ref> Ở khoảng cách {{convert|12000|m|yd|abbr=on}}, đạn pháo AP 11 inch có thể xuyên thủng vỏ giáp dày đến {{convert|200|mm|in|abbr=on}}.<ref name="Navweaps"/>
 
Dàn pháo hạng hai của các con tàu bao gồm mười hai khẩu pháo SK {{convert|15|cm|in|abbr=on}} L/45 gắn trên các [[tháp pháo ụ]]. Các khẩu pháo này bắn ra đạn pháo nặng {{convert|99,9|lb|kg |abbr=on}} ở lưu tốc đầu đạn 835 m/s (2.740 ft/s). Tháp pháo ụ này cho phép nâng lên đến 19°, cho phép một tầm bắn tối đa {{convert|14950|m|yd|abbr=on}}. Các con tàu cũng mang theo mười sáu khẩu pháo SK {{convert|8,8|cm|in|abbr=on}} L/45, cũng bố trí trong các tháp pháo ụ. Các khẩu pháo này bắn ra đạn pháo nặng {{convert|22|lb|kg |abbr=on}} ở lưu tốc đầu đạn 650 m/s (2.133 ft/s), và có thể xoay cho đến 25° cho một tầm bắn tối đa {{convert|9600|m|yd|abbr=on}}.<ref name="Conways140"/> Sau năm [[1915]], hai khẩu 8,8 cm được tháo dỡ thay thế bằng hai khẩu [[pháo phòng không]] 8,8 cm, rồi trong giai đoạn giữa năm [[1916]] và [[1917]], mười hai tháp pháo ụ 8,8 cm còn lại được tháo dỡ.<ref name="Groner23"/> Các khẩu pháo phòng không này bắn ra đầu đạn hơi nhẹ hơn {{convert|21,2|lb|kg |abbr=on}} ở lưu tốc đầu đạn 765 m/s (2.510 ft/s); chúng có thể nâng đến 45° và có thể bắn trúng mục tiêu cách xa {{convert|11800|m|yd|abbr=on}}. Những chiếc trong lớp ''Nassau'' còn được trang bị sáu ống phóng [[ngư lôi]] chìm {{convert|45|cm|in|abbr=on}}; một ống trước mũi, một ống khác phía đuôi, và hai ống bên mỗi mạn tàu về phía cuối [[vách ngăn chống ngư lôi]].<ref name="Conways140"/>
 
== Việc chế tạo ==
Bốn chiếc trong lớp được đặt hàng dưới những cái tên tạm thời ''Ersatz Bayern'', ''Ersatz Sachsen'', ''Ersatz Württemberg'' và ''Ersatz Baden'', như những chiếc thay thế cho [[Sachsen (lớp tàu frigate)|lớp tàu frigate bọc thép ''Sachsen'']].<ref group=Note>"Ghi chú">Tàu chiến Đức được đặt hàng dưới cái tên tạm thời: những chiếc dự định để thay thế một tàu chiến cũ đã lạc hậu được đặt tên "[[Ersatz]] (tên tàu được thay thế)"; khi hoàn tất, nó sẽ được đặt cái tên dự định dành cho nó. Trong trường hợp này, ''Ersatz Bayern'' được dự định để thay thế cho [[SMS Bayern (1878)|SMS ''Bayern'']], và khi con tàu hoàn tất, nó sẽ được đặt tên ''Nassau''.</ref> Chiếc đầu tiên trong lớp, [[SMS Nassau|''Nassau'']], được đặt lườn vào ngày [[22 tháng 7]] năm [[1907]] tại xưởng tàu [[Kaiserliche Werft Wilhelmshaven|''Kaiserliche Werft'']] ở [[Wilhelmshaven]], được hạ thủy vào ngày [[7 tháng 3]] năm [[1908]], và đưa ra hoạt động cùng hạm đội vào ngày [[1 tháng 10]] năm [[1909]]. [[SMS Westfalen|''Westfalen'']] được đặt lườn không đầy một tháng sau đó, vào ngày [[12 tháng 8]] năm [[1907]] tại xưởng tàu [[AG Weser]] ở [[Bremen]]. Con tàu được hạ thủy vào ngày [[1 tháng 7]] năm [[1908]], và đưa ra hoạt động vào ngày [[16 tháng 11]] năm [[1909]].<ref name="Conways145"/><ref name="Groner23-24">{{harvnb|Gröner|1990|p=23–24}}</ref>
 
[[SMS Rheinland|''Rheinland'']], chiếc thứ ba trong lớp, thực ra là chiếc đầu tiên được đặt lườn vào ngày [[1 tháng 6]] năm [[1907]] tại xưởng tàu [[AG Vulcan Stettin|AG Vulcan]] ở [[Stettin]]. Việc chế tạo ''Rheinland'' tiến triển chậm hơn ''Nassau'' và ''Westfalen'', nên nó được hạ thủy trễ hơn vào ngày [[26 tháng 9]] năm [[1908]], và nó gia nhập hạm đội vào ngày [[30 tháng 4]] năm [[1910]]. [[SMS Posen|''Posen'']], chiếc cuối cùng trong lớp, được đặt lườn tại xưởng tàu [[Friedrich Krupp Germaniawerft|Germaniawerft]] ở [[Kiel]] vào ngày [[11 tháng 6]] năm [[1907]]. Con tàu được hạ thủy vào ngày [[12 tháng 12]] năm [[1908]], và chỉ tham gia cùng các tàu chị em vào ngày [[31 tháng 5]] năm [[1910]].<ref name="Conways145"/><ref name="Groner24">{{harvnb|Gröner|1990|p=24}}</ref>
 
=== Các hoạt động sau cùng ===
Không đầy ba tháng sau trận Jutland, ''Westfalen'' trúng [[ngư lôi]] phóng từ [[tàu ngầm]] Anh [[HMS E23| HMS ''E23'']] vào ngày [[19 tháng 8]] năm [[1916]], nhưng chỉ bị hư hại nhẹ và được sửa chữa không lâu sau đó.<ref name="Hore67">{{harvnb|Hore|2006|p=67}}</ref> Đến năm [[1918]], ''Westfalen'' và ''Rheinland'' được cho tách khỏi Hạm đội Biển khơi để di chuyển đến [[biển Baltic]]. [[Phần Lan]] đang trong một cuộc [[Nội chiến Phần Lan|nổi dậy]] chống sự cai trị của Nga, và hai chiếc tàu chiến được phái đến trợ giúp người Phần Lan trong cuộc nội chiến tại đây.<ref name="Hore67"/> Vào ngày [[11 tháng 4]] lúc vào khoảng 07 giờ 30 phút, ''Rheinland'' bị mắc cạn tại [[quần đảo Åland]]. Có đến khoảng 6.000 tấn pháo, vỏ giáp và than phải được chất dỡ để làm nhẹ con tàu đủ để nó có thể nổi trở lại được, một công việc chỉ hoàn tất vào ngày [[9 tháng 7]].<ref name="Groner24"/> ''Rheinland'' không bao giờ được sửa chữa, nó trải qua phần còn lại của quãng đời hoạt động như một tàu trại lính tại Kiel.<ref name="Hore67"/>
 
Sau khi Thế Chiến I kết thúc vào năm [[1918]], mười một thiết giáp hạm dreadnought thuộc các lớp [[König (lớp thiết giáp hạm)|''König'']], [[Kaiser (lớp thiết giáp hạm)|''Kaiser'']] và [[Bayern (lớp thiết giáp hạm)|''Bayern'']], toàn bộ năm chiếc [[tàu chiến-tuần dương]], cùng một số [[tàu tuần dương hạng nhẹ]] và [[tàu khu trục]] của Hải quân Đức bị lưu giữ tại [[Scapa Flow]], trong khi số phận của chúng được định đoạt qua các cuộc thương lượng tại [[Hiệp ước Versailles]].<ref>{{harvnb|Gardiner|1984|p=139}}</ref> Những chiếc thuộc các lớp ''Nassau'' và [[Helgoland (lớp thiết giáp hạm)|''Helgoland'']] được để lại Đức. Sau vụ [[Đánh đắm Hạm đội Đức tại Scapa Flow]] vào [[tháng 6]] năm [[1919]], cả bốn chiếc ''Nassau'' đều được phân chia cho phe Đồng Minh thắng trận như những [[chiến lợi phẩm]] thay thế cho những con tàu bị đánh chìm.<ref name="Hore67"/> ''Nassau'' được nhường cho [[Nhật Bản]], Anh Quốc nhận ''Westfalen'' và ''Posen'', còn ''Rheinland'' được đưa thẳng đến nơi tháo dỡ tại [[Dordrecht]]. Từ năm [[1920]] đến năm [[1924]], ''Westfalen'' được tháo dỡ tại [[Birkenhead]] trong khi những chiếc còn lại được tháo dỡ tại Dordrecht.<ref name="Groner23-24"/>
==Tham khảo==
=== Ghi chú ===
{{Reflist|group=Note"Ghi chú"}}
=== Chú thích ===
{{Reflist|2}}
* {{Cite book | last=Tarrant | first=V. E. | title=Jutland: The German Perspective | year=1995 | location=London | publisher=Cassell Military Paperbacks | isbn=0-304-35848-7}}
{{Refend}}
 
 
 
{{Lớp thiết giáp hạm Nassau}}
 
{{Link FA|en}}
 
[[cs:Třída Nassau]]
[[de:Nassau-Klasse]]
72.718

lần sửa đổi