Khác biệt giữa các bản “Hoàng đế Đức”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
Tước hiệu "Hoàng đế Đức" đã được [[Thủ tướng]] [[Otto von Bismarck]] chắt lọc kỹ lưỡng sau những cuộc bàn cãi cho đến khi (và cả sau khi) vua nước Phổ là Wilhelm I đăng ngôi Hoàng đế. Wilhelm I - vị vua sáng lập ra Đế quốc Đức<ref>[[ Christopher Clark]], ''Kaiser Wilhelm II: A Life in Power'', trang 1</ref>- đã miễn cưỡng chấp thuận đế hiệu này do ông muốn gọi là "Hoàng đế của Đức" - một đế hiệu không được các vua chúa Liên bang Đức chấp nhận, và sẽ chứng tỏ yêu sách của Hoàng đế đối với các lãnh thổ bên ngoài [[đế quốc]] của ông ([[Đế quốc Áo|Áo]], [[Liên bang Thụy Sĩ]], [[Đại Công quốc Luxembourg|Luxembourg]], v.v...). Danh hiệu ''Hoàng đế của người Đức'', được đề xuất hồi năm [[1848]], cũng phải loại bỏ do vua Đức coi mình là được lựa chọn "[[Do Ân điển của Chúa]]", chứ không phải là do nhân dân như trong một nước [[Cộng hòa]] [[Dân chủ]].
 
Lễ thành lập Đế quốc Đức diễn ra ở [[cung điện Versailles]] ([[Pháp]]) vào năm [[1871]], và không phải là ngẫu nhiên mà Bismarck chọn nơi này. Như mọi học sinh Đức đều biết, một [[thế kỷ]] trước thời [[Napoléon Bonaparte]], vua Pháp [[Louis XIV của Pháp|Louis XIV]] - người đã xây nên cung điện Versailles - đã [[xâm lược]] nước Đức, lăng mạ các Vương hầu Đức. Qua đó, sự kiện này thể hiện sự "trả đũa" của người Đức đối với các cuộc xâm lăng của Louis XIV và Napoléon, cũng như là sự lăng nhục mà người Phổ giành cho Pháp - quốc gia lớn mạnh nhất châu Âu đã bị Phổ đánh bại trong cuộc [[Chiến tranh Pháp-Phổ]].<ref> Alan Davies, ''The Crucified Nation: A Motif in Modern Nationalism'', trang 56</ref><ref name="tongUe4">Neil Tonge, ''The Rise of the Nazis'', trang 4</ref> Với cuộc đăng quang này, vị KaiserHoàng đế [[chiến thắng]] đã nhận được chiếc "[[Vương miện]] của [[Charlemagne]] và [[Friedrich I của Đế quốc La Mã Thần thánh|Barbarossa]]"<ref>''Eminent persons: biographies reprinted from the Times 1870-'', Tập 4, trang 54</ref> trong khi [[Liên bang Bắc Đức]] ('''''Norddeutscher Bund''''') được chuyển đổi thành [[Đế quốc Đức]] ('''''Deutsches Kaiserreich'''''). Đế quốc này là một [[Liên bang|quốc gia Liên bang]]; Hoàng đế là nguyên thủ quốc gia và cũng là vị [[Chủ tịch]] của các vua chúa Liên bang (các vị [[Vua|Quốc vương]] xứ [[Vương quốc Bayern|Bayern]], [[Vương quốc Württemberg|Württemberg]], [[Vương quốc Sachsen|Sachsen]], các [[Đại Công tước]] xứ [[Đại Công quốc Baden|Baden]], [[Mecklenburg]], [[Đại Công quốc Hesse|Hesse]], cũng như nhiều Công quốc do Vương công hoặc [[Công tước]] cai quản, các [[thành phố tự do]] [[Thành phố tự do Hamburg|Hamburg]], [[Thành phố tự do Lübeck|Lübeck]] và [[Bremen (bang)|Bremen]]).
 
Wilhelm I luôn thỏa mãn với việc trị vì đất nước trong khi Bismarck thực sự cầm quyền.<ref>Hastings Eells, ''Europe since 1500'', trang 159</ref> Dưới sự thống trị của hai ông, chính thể chuyên chế của Đế quốc Đức được vững tồn. Trong các nước lớn (ngoại trừ [[Đế quốc Nga]]), Đức thực sự là quốc gia duy nhất còn đứng vững trước phong trào [[Cách mạng]] và các yêu sách [[dân chủ]] của quần chúng. Trong lịch sử Đệ nhị Đế chế Đức có năm [[1888]] được gọi là là "Năm ba Hoàng đế/Kaiser" do đó là năm Hoàng đế Friedrich III lên kế vị vua cha Wilhelm I trong một thời gian ngắn rồi mất, để lại ngôi Hoàng đế cho con ông là Wilhelm II.<ref>Nick Yapp, Nicholas Yapp, ''Audrey Hepburn'', trang 13</ref><ref>W. Michael Blumenthal, ''The Invisible Wall: Germans and Jews: A Personal Exploration'', trang 239</ref> Ông một thời là vị nguyên thủ hùng mạnh nhất ở [[châu Âu]].<ref name="yenne14"/> Không những là cháu trai của vị Hoàng đế Đức đầu tiên Wilhelm I và [[Nữ hoàng]] [[Anh Quốc]] [[Victoria của Anh|Victoria]] (do mẹ ông là con gái trưởng của Victoria<ref>Martin Kitchen, ''A History of Modern Germany: 1800 to the Present'', trang 157</ref>), Hoàng đế Wilhelm II còn là người thuộc dòng dõi các [[Sa hoàng|Nga hoàng]].<ref>John M. Merriman, J. M. Winter, ''Europe 1789 to 1914: encyclopedia of the age of industry and empire'', trang 2468</ref> Hoàng đế nắm phần lớn quyền hành, có quyền bổ nhiệm [[Thủ tướng]] [[Chính phủ]], trong khi [[Quốc hội (Đế quốc Đức)|Quốc hội]] (''[[Reichstag]]'') đóng vai trò quan trọng về [[tài chính]] và thuế khóa. Như vào năm [[1890]], Wilhelm II có lời diễn văn như sau : ''"Duy chỉ có một người làm chủ Đế quốc này và Trẫm sẽ không thể khoan dung cho những người khác"''.<ref name="tongUe4"/> Trong cuộc [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]], sau khi đại phá quân đội Nga hoàng trong [[trận Tannenberg]] ([[1914]]), [[Nguyên soái|Thống chế]] [[Paul von Hindenburg]] và [[Thượng tướng Bộ binh (Đức)|Thượng tướng]] [[Bộ binh]] [[Erich Ludendorff]] đã nổi lên mạnh mẽ, và sau khi lên nắm binh quyền vào năm [[1916]], hai ông đã chấn chỉnh đáng kể tình hình bất lợi cho quânQuân đội HoàngĐế đếquốc Đức sau thất bại trong [[trận Verdun]]. Hai ông được Hoàng đế trao cho quyền lực [[chính trị]] vào đầu năm [[1917]] và trở thành những nhà [[độc tài]] [[quân sự]] trên thực tế của nước Đức, chi phối Đế quyền.<ref>Shelley Baranowski, ''Nazi Empire: German Colonialism and Imperialism from Bismarck to Hitler'', trang 81</ref><ref>Denis Judd, ''Eclipse of kings: European monarchies in the twentieth century'', trang 18</ref><ref>Eric Dorn Brose, ''The Kaiser's Army: The Politics of Military Technology in Germany During the Machine Age, 1870-1918''</ref> Măt khác, Chiến dịch [[Tổng tấn công Mùa xuân 1918]] của Ludendorff - mở đầu với thắng lợi vang dội của quân Đức - đã được đặt tên là ''Trận chiến của Hoàng đế'' (''Kaiserschlacht''), và một bức tranh [[tuyên truyền]] của Đức đã cho thấy nhà vua tích cực tham gia lập kế hoạch cho Chiến dịch ấy.<ref>Spencer Tucker, ''Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict'', trang 439</ref><ref>David Raab, ''Battle of the Piave: Death of the Austro-Hungarian Army, 1918'', trang 59</ref> Dù sao đi chăng nữa, dẫu cho KaiserHoàng đế thường hay vượt qua các giới hạn mà Hiến pháp Đức quy định và tích cực tận dụng Đế quyền theo các điều khoản của [[Hiến pháp]] sau năm [[1900]], dần dần Kaiserông không còn quyền trị nước nữa trong chiến tranh, khiến cho ông trở thành một "Hoàng đế bóng mờ" (''Schattenkaiser'').<ref> John C. G. Röhl, John C. G. Rohl, Nicolaus Sombart, ''Kaiser Wilhelm II New Interpretations: The Corfu Papers'', trang 7</ref> Sau thất bại của Chiến dịch Mùa xuân năm 1918, nước Đức cận kề thất bại, phong trào [[Cách mạng Đức (1918&ndash;1919)|Cách mạng Đức]] bùng nổ dẫn tới sự thoái vị của Wilhelm II, đánh dấu sự kết thúc của [[triều đại]] 3 thập kỷ của vị Hoàng đế cuối cùng của Đức. <ref> John Kerr, ''Germany, 1918-39'', trang 8</ref><ref name="yenne14">Bill Yenne, ''Hitler's Master of the Dark Arts: Himmler's Black Knights and the Occult Origins of the SS'', trang 1-</ref>
 
Chữ "the [[Kaiser]]" được dùng phổ biến trong các tài liệu [[tiếng Anh]], để chỉ Hoàng đế Wilhelm II nước Đức.<ref>Nigel John Ashton, Duco Hellema, ''Unspoken Allies: Anglo-Dutch Relations Since 1780'', trang 80</ref><ref>Ronald Pawly, ''The Kaiser's Warlords: German Commanders of World War I'', trang 80</ref>