Khác biệt giữa các bản “BTR-152”

không có tóm lược sửa đổi
10 mm mái
4 mm bao quanh gầm và phần đáy ở đuôi xe
|primary_armament= Súng máy [[SG-43|SGMB]] 7,62mm (1.250 viên đạn) hoặc [[DShK]] 12,7 mm (500 viên)
|engine= ZIS-123 6 xi-lanh làm mát bằng nước (đối với các biến thể dựa trên ZIS-151) , ZIL-137K 6 xi-lanh (đối với các biến thể dựa trên ZIL-157)
|engine_power=
|pw_ratio= 11,1 mã lực / tấn (8,3 kW / tấn)
|speed= 65 - 75 km/h
}}
'''BTR-152''', còn được gọi là '''BTR-140''', là loại xe bọc thép chở quân ( không có khả năng đổ bộ và lội nước ) do [[Liên Xô]] chế tạo từ năm 1950 (BTR là viết tắt của Bronetransporter (БТР, Бронетранспортер, nghĩa là "bọc thép vận chuyển") ,. BTR-152 được phát triển và sử dụng song song với loại xe [[BTR-40]] của nhà thiết kế [[VA Dedkov]] dựa trên mẫu BTR-141 từ thế[[Thế chiến thứ hai ]]. Được đưa vào biên chế quân[[Quân đội Xô Viết]] năm 1950 - 1991 , nó được dùng nhằm bổ sung cũng như thay thế cho những chiếc [[BTR-40]] . Sau năm 70 1970, các xe BTR-152 và [[BTR-40]] dần được thay thế bằng các xe [[BTR-60]] , [[BTR-70]] và [[BTR-80]] . Nó còn nằm trong biên quân đội [[Liên Xô]] - [[Nga]] đến năm 1993 . Các nước khu vực [[Châu Phi]] và các nước ở [[Châu Á]] thuộc khối [[xã hội chủ nghĩa]] cũng được Liên Xô cung cấp cho loại xe này và vẫn còn được quân đội nhiều nước trên thế giới sử dụng .
 
== Lịch sử ==
{{see also|Xe bọc thép chở quân|Xe chiến đấu bộ binh}}
[[Xe tăng]] là phương tiện cần thiết trong chiến tranh cơ động vũ trang . Tuy nhiên , ngay khi đã có vũ khí mạnh , vỏ thép dày nhưng xe tăng cũng chịu nhiều thiệt hại từ các chiến thuật chống tăng của đối phương , đặc biệt là ở khu vực đô thị . Điều này đã làm cho mỗi trận chiến có tăng thì yêu cầu cần phải có bộ binh đi cùng nhằm vừa bảo vệ các chiến xa và phối hợp tấn công xe tăng của địch , chiến thuật hợp đồng tác chiến sẽ làm tăng hiệu quả chiến đấu hơn bao giờ hết .
 
Trong [[chiến tranh thế giới thứ hai]] , do tình hình chiến tranh ác liệt , các nước đã nghĩ tới một loại xe tương tư như xe tăng như nhỏ và nhẹ hơn dùng để chở quân vào các vùng chiến sự , bắt đầu từ đây khái niện [[Xe bọc thép chở quân]] (APC hay BTR) được phổ biến rộng rãi tuy sau chiến tranh thế giới thứ nhất , một ví dụ về xe chở quân là [[Mark I (xe tăng)|Mark V*]] (loại xe tăng của Anh có phòng nhỏ để chở quân) cũng đã hình thành . Xe nửa xích như [[M3]] của Mỹ và [[SdKfz 251]] của Đức đóng vai trò tương tự như các xe bọc thép chở quân được phát triển sau đó trở đi. Xe bọc thép chở quân hàng đầu trong thời gian này là Universal Carrier của Anh, cũng còn được biết với tên là Bren Carrier vì loại vũ khí mà nó được thiết kế để mang theo . Sau này một khái niệm nữa mang tên [[Xe chiến đấu bộ binh]] (infantry fighting vehicle IFV , véhicule de combat d'infanterie , Боевая машина пехоты ) cũng hình thành , nó như là sự kết hợp giữa xe thiết giáp và một phần của xe tăng . ''Xem thêm [[Xe bọc thép chở quân]] , [[Xe chiến đấu bộ binh]]'' .
 
Trong thế chiến thứ hai , loại xe bọc thép mà [[Liên Xô]] sử dụng là mẫu [[BTR-141]] và [[BT-7]] , sau này được làm mẫu cho loại [[BTR-40]] .
 
BTR-152 là một trong những xe thiết giáp bộ binh của [[Liên Xô]] đầu tiên sau khi Chiến[[Thế tranh thế giớichiến thứ hai]] kết thúc . Nó được phát triển từ tháng 11 năm 1946 tại nhà máy ZIS được thiết kế bởi [[BM Fitterman]] . Hai nguyên mẫu đầu tiên được hoàn thành tháng 5 năm 1947 . Chiếc xe đã được [[Hồng Quân|quân đội Liên Xô]] thông qua vào ngày [[24 tháng 3]] năm [[1950 ]]. Một số phiên bản nâng cấp được thiết kế bởi WF Rodionow và NI Orłow sau đó đưa vào sản xuất . Những nguyên mẫu BTR-152 gặp nhiều vấn đề khi bảo trì , sửa chữa như máimáycácbộ vấnphận đềtruyền vềđộng. diViệc chuyểnsản xuất BTR-152 ngừng lại vào năm 1962. Tổng cộng đã có 15.000 chiếc được sản xuất .
 
Việc sản xuất BTR-152 ngừng lại vào năm 1962 . tổng cộng đã có 15000 chiếc được sản xuất .
== Miêu tả ==
[[Tập tin:BTR-152-latrun-4.jpg|nhỏ|trái|200px|Mặt sau xe]]
Xe BTR-152 được chế tạo dựa trên khung xe tải , có động cơ ở phía trước , khoang chở lính ở phía sau . Cấu trúc của xe là cấu trúc hàn thép . Kính chắn gió được bảo vệ bằng 2 tấm sắt , chúng có thanh đóng mở riêng . Khoang lái xe có 2 cửa mỗi bên cho lái xe . Trên nóc xe có 1 khoang nhỏ dành cho xạ thủ súng máy . Xe có các cửa quan sát phía trước , sau và hai bên giúp cho binh lính và lái xe có thể quan sát từ trong xe ra trận địa . Vỏ giáp xe có độ dày khoảng từ 15 - 9 mm , phần mỏng nhất là bao quanh gầm xe và đáy đuôi 4mm . Điều này làm xe dễ bị súng máy hạng nặng tấn công , có khi còn từ vũ khí bộ binh cá nhân .
 
Xe chạy bằng 6 lốp , có bộ phận giảm xóc để giúp lái xe không bị mệt khi đi qua địa hình gồ ghề . Lốp xe dễ bị thủng do đạn bắn , do là loại xe bánh lốp nên BTR-152 hơi khó khăn khi đi qua các khu vực lầy lội . Mẫu BTR-152 V3 có cả thiết bị nhìn đêm .
 
Xe có thể chở 1,9 tấn hàng hóa hoặc nửa trung đội . Lính trong xe có thể chiến đấu bằng súng cá nhân ra ngoài do họ có thể bắn qua các cửa quan sát . Binh sĩ có thể ra vào xe bằng cách leo qua nóc xe do xe không có mái . Những chiếc dùng để chở hàng hóa thì có một tấm bạt phủ lên trên thay cho nóc khi đi qua nơi có mưa hay tuyết , bão . Các mẫu BTR-152 thì thường không có mái , việc này rất nguy hiểm khi đi qua các vùng đô thị có nhiều nhà cao tầng , quân địch ở phía trên dễ dàng nã xuống hoặc xe có khả năng bị ném [[lựu đạn]] vào khoang chở quân . Chỉ có lái xe và xạ thủ súng máy là những người duy nhất được bảo vệ ở phía trên . Sau này , mẫu BTR-152K là mẫu duy nhất thuộc dòng BTR-152 là có mái trên bảo vệ lính trong khoang .
 
BTR-152 được trang bị 1 súng máy 7,62mm [[SG-43|SGMB]] , súng [[DShK]] 12,7mm hoặc súng phòng không 14,5mm hay 23mm .
 
Trước động cơ xe có các cửa mảnh nhằm bảo vệ động cơ trong quá trình di chuyển khỏi bị trúng đạn . Nhưng việc đóng cửa mảnh quá lâu dễ gaygây nóng động cơ làm lái xe phải chạy chậm lại . Đây là 1 điểm yếu của xe do bộ phận làm mát khó có thể đáp ứng nổi công việc .
[[Tập tin:BTR-152-latrun-1.jpg|nhỏ|phải|200px|Mặt trước xe]]
 
Ngoài ra , BTR-152 còn gặp phải nhiều vấn đề khác như vấn đề về bảo trì , hoạt động qua nước , hoàn toàn không có khả năng đổ bộ hay lội nước , độiđộ tin cậy thấp . Những nguyên nhân trên là do xe được phát triển từ 2 mẫu xe tải của [[Liên Xô]] là [[ZIS-151]] và [[ZIL-157]] . Sau này các mẫu [[BTR-60]] , [[BTR-70]] và [[BTR-80]] đã thay thế dần dần cho BTR-152 .
 
Độ tin cậy làm việc thấp, [[hệ số kỹ thuật]] không cao. Động cơ của xe là [[động cơ]] thế hệ cũ có công suất nhỏ, vỏ thép nặng, khiến công suất riêng của xe không cao. Hơn nữa, hệ thống lái cơ khí của xe không có trợ lực nên điều khiển rất khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng cơ động.<ref>[http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-Quoc-phong/Quoc-phong-Viet-Nam-Tre-hoa-xe-thiet-giap-cho-quan-BTR152/173154.gd]</ref>
== Lịch sử hoạt động ==
[[Tập tin:Two Soviet-built BTR-152V2.JPEG|nhỏ|trái|200px|2 chiếc BTR-152V2 của [[Liên Xô]]]]
BTR-152 bắt đầu hoạt động trong [[Hồng quân|quân đội Liên Xô]] từ ngày 24 tháng 3 năm 1950 và công khai xuất hiện trong 1 cuộc diễu hành tại [[Moskva]] năm 1951 . Nó được loại bỏ dần bằng những chiếc [[BTR-60]] bắt đầu từ năm 1970 . Nó còn hoạt động trong quân đội Xô Viết và sau đó là quân đội Nga đến năm 1993 trong cả các mục đích dân sự lẫn quân sự . BTR-152 được xuất khẩu đến những nước châu Phi và các đồng minh [[xã hội chủ nghĩa]] của Liên Xô cũ và hiện nay vẫn còn hoạt động tại nhiều nước .
 
BTR-152 được sử dụng trong cuộc [[Cách mạng Hungary 1956]] . Sau đó là ở [[Chiến tranh Sáu ngày|Cuộc chiến 6 ngày]] . Tại đây , [[Israel]] đã thu giữ hàng chục chiếc BTR-152 của [[Ai Cập]] và [[Syria]] . Nó cũng xuất hiện trong [[Cuộc xâm lược Tiệp Khắc năm 1968]] và [[Chiến tranh Việt Nam]] . [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] đã sử dụng BTR-152 là chiếc xe bọc thép chở quân chính trong thời kỳ chiến tranh .
== Biến thể ==
[[Tập tin:Czerniaków BTR-152W.JPG|nhỏ|phải|200px|BTR-152 tại Warszawa , Ba Lan]]
=== Liên Xô cũ ===
'''BTR-152''' (năm 1950) - APCmẫu cơ bản dựa trên xe tải [[ZIL-151]] , nhiều trong số đó sau này sẽ được chuyển đổi cho các mục đích sử dụng khác, chẳng hạn như xe cứu thương , trạm phát thanh , và các phương tiện kỹ thuật khác . Loại BTR-152 cơ bản không có mái .
 
'''BTR-152A''' (1951) - BTR-152 được chuyển đổi thành một SPAAG (xe phòng không) trang bị một đôi [[ZPU-2]] hoặc loại 4 nòng [[ZPU-4]] , [[KPVT]] 14,5 mm súng máy phòng không hạng nặng (2400 viên) , điều khiển súng chỉ bởi một người lính duy nhất . ToànXe bộ phithể hành đoàn của chiếc xe bao gồmchở 10 binh sĩ , 5 được trang bị với ZPTU-2 và 5 binh sĩ được trang bị với ZPTU-4. Tháp pháo được đặt bên trong ngăn quân và có thể được vận hành bằng tay chỉ bởi một người . Nó có thể nâng từ -5 và 80 độ .
 
'''BTR-152''' chuyển đổi thành một xe thả mìn chống tăng .
 
'''BTR-152B''' (1952) Xe chỉ huy pháo đoàn .
 
'''BTR-152C''' Xe thông tin .
 
'''BTR-152V''' (1955) - Biến thể dựa trên xe tải [[ZIL-157]] với lốp xe bên ngoài hệ thống điều chỉnh áp lực , gắn các thiết bị nhìn ban đêm cho người lái xe .
 
'''BTR-152D''' (1955) - Vũ khí như BTR-152A , nhưng dựa trên BTR-152V .
 
'''BTR-152I''' phiên bản BTR-152V cho chiếc xe chỉ huy pháo binh .
 
'''BTR-152S''' Xe thông tin kết hợp xe chỉ huy có lắp đặt mái dày và cao .
 
'''BTR-152V1''' (1957) Trang bị thiết bị nhìn đêm và tời ( thiết bị kéo ) , dùng như xe sửa chữa chiến trường .
 
'''BTR-152K''' (1959) - Lắp thêm mái thép ở ngăn quân , thêm cửa di chuyển ở bên phải . Hệ thống thông gió . Trọng lượng của chiếc xe đã tăng lên, phi hành đoàn đã đi xuống từ 2 + 18 xuống 2 + 13 .
 
'''BTR-152K''' chuyển đổi thành xe cứu thương bọc thép .
 
'''BTR-152E''' - Vũ khí BTR-152A , nhưng dựa trên BTR-152V1 .
 
'''BTR-152U''' - Xe chỉ huy dựa trên BTR-152V1 được trang bị với hệ thống lốp xe bên ngoài quy định áp lực . Chiếc xe chỉ huy có một mái nhà che phủ cao hơn đáng kể , radio và ăng-ten bổ sung .
 
'''BTR-152V2''' - BTR-152V phiên bản mà không có tời .
 
'''BTR-152D''' dựa trên BTR-152V2 .
 
'''BTR-152B1''' (1958) - Xe chỉ huy pháo phiên bản với phía trước gắn trên tời , hộp chứa lốp xe và thiết bị nhìn ban đêm cho người lái xe.
 
'''BTR-152V3''' - BTR-152V với tời trên mặt trước , lái xe có đèn hồng ngoại và hộp lốp .
 
'''BTR-E152V''' (1957) - Phiên bản thử nghiệm .
 
=== Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ===
[[Tập tin:BTR-152-ARV-latrun-3.jpg|nhỏ|phải|200px|BTR-152 có tời ( cần trục kéo ) nhằm phục vụ sửa chữa kĩ thuật trên chiến trường]]
'''Type 56 (loại 56)''' Phiên bản sao chép của [[Trung Quốc]] .
 
=== Ai Cập ===
[[Tập tin:BTR-152-latrun-3.jpg|nhỏ|trái|200px|BTR-152 trưng bày tại bảo tàng Yad la-Shiryon , [[Israel]]]]
'''BTR-152''' được chuyển đổi thành SPAAG với 4 súng phòng không [[DShK]] 12,7mm đặt tại ngăn quân , [[Ai Cập]] gọi nó là xe M58 . Ngừng hoạt động vào năm 1980 .
 
=== Đông Đức cũ ===
'''SPW-152''' - Phiên bản BTR-152 của [[Đông Đức]]
 
'''SPW-152''' chuyển đổi thành xe cứu thương bọc thép .
'''SPW-152U''' - Phiên bản xe chỉ huy BTR-152 của [[Đông Đức]] .
 
=== Israel ===
'''BTR-152''' Bắt được từ [[Syria]] , [[Ai Cập]] và được sửa đổi để đáp ứng nhu cầu cho [[quân đội Israel]] .
 
'''BTR-152 TCM-20''' Xe phòng không của Israel , được trang bị 1 pháo đôi [[TCM - 20]] 20mm .
 
=== Liban ===
'''BTR-152''' Dành cho Dân quân [[Liban]] . Nó được trang bị với súng [[ZSU-23-2]] chống máy bay được đặt bên trong ngăn quân . Nó được sử dụng trong vai trò hỗ trợ hoả lực và chống máy bay .
 
'''BTR-152''' Israel thu được từ [[Hezbollah]] . Nó được trang bị một cần trục bên trong . Một số bị Israel thu giữ trong cuộc [[Chiến tranh Liban 2006]] đang được trưng bày tại Bảo tàng Yad la-Shiryon , Israel .
 
=== Ba Lan ===
'''BTR-152''' chuyển đổi để phục vụ như là một xe chỉ huy di động. Nó có thêm radio .
 
'''BTR-152''' chuyển đổi thành một phương tiện kỹ thuật .
 
'''BTR-152''' chuyển đổi thành một máy kéo pháo binh bọc thép .
 
== Các quốc gia sử dụng ==
{{flag|Cyprus}}
 
{{flag|Ai Cập}} - Hiện còn 300 BTR-152 đang hoạt động . 675 BTR-152 mua từ [[Liên Xô]] và [[Tiệp Khắc]] . Ngoài ra , Ai Cập còn 120 BTR-152 chuyển đổi thành [[SPAAG]] nhưng ngừng phục vụ giữa những năm 1980.
 
{{flag|Equatorial Guinea}}
{{flag|Iran}}
 
{{flag|Israel}} Thu được trong thời gian [[Chiến tranh Sáu ngày]] từ Ai Cập và Syria. Nó được sử dụng bởi quân đội Israel chủ yếu là trong vai trò vận chuyển vũ khí như TCM BTR-152-20 . Một số lượng nhỏ , phục vụ trong cảnh sát Israel .
 
{{flag|Lào}}
{{flag|Bắc Triều Tiên}}
 
{{flag|Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa}} Loại 56
 
{{flag|Cộng hòa Congo}}
 
{{flag|Ba Lan}} - Được sử dụng bởi quân đội , nhưng thay thế bằng [[SKOT]] APC. Năm 1982 , Obywatelska Milicja (tổ chức dân quân tự vệ của [[Ba Lan]] đã nhận được 6 BTR-152V1 APC với các thiết bị đặc biệt từ Volkspolizei của Đông Đức . Một trong những chiếc xe vẫn được giữ trong lưu trữ trong lực lượng công an .
 
{{flag|Somaliland}}
{{flag|Zimbabwe}}
 
=== Các nhàquốc gia từng sử dụng trước đây===
 
{{flag|Bulgaria}} - Ngừng hoạt động trong những năm 1990 .
 
{{flag|Đông Đức}} - Chuyển giao lại cho nhà nước Đức thống nhất.
{{flag|Nga}} - Loại bỏ trong năm 1991 - 1993
 
{{flag|Liên Xô}} - Thông qua tiểunước bangthành viên kế thừa .
 
{{flag|Đức}} - Lấy từ quân đội [[Cộng hòa Dân chủ Đức]] , tất cả được loại bỏ hoặc bán cho các quốc gia khác .
 
{{flag|Nam Tư}} - 40 , ngừng hoạt động trong năm 1970.
 
=== Các lực lượng vũ trang và tổ chức chính trị ===
[[Lực lượng dân quân tự vệ Liban]]
 
[[Obywatelska Milicja]] Tổ chức dân quân tự vệ của [[Ba Lan]] .
 
== Các hình ảnh của BTR-152 tại bảo tàng Yad la-Shiryon , Israel ==
<gallery perrow="3">
Hình:BTR-152-batey-haosef-1.jpg
 
== Xem thêm ==
 
<references />
 
==Liên kết ngoài==
* [http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Kham-pha-xe-boc-thep-cho-bo-binh-BTR152-cua-Viet-Nam/53604.gd]
 
* [http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-Quoc-phong/Anh-Xe-boc-thep-cho-bo-binh-BTR152-cua-Viet-Nam/53603.gd]
 
*http://giaoduc.net.vn/Tags/BTR-152.gd
 
*http://thanhhoafc.net/forum/showthread.php?t=7527&page=3
 
*http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=53861
 
*http://www.offroad.vn/Trong-nuoc_20/Tap-huan-nang-cap-xe-thiet-giap-BTR--152_435.aspx
 
{{commons|BTR-152}}
 
[[Thể loại:Xe bọc thép chở quân]]
 
 
[[ar:بي تي أر-152]]
[[az:BTR-152]]
[[cs:BTR-152]]
[[de:BTR-152]]
[[es:BTR-152]]
[[fr:BTR-152]]
[[it:BTR-152]]
[[he:BTR-152]]
[[ka:БТР-152]]
[[ja:BTR-152]]
[[no:BTR-152]]
[[pl:BTR-152]]
[[ro:BTR-152]]
[[ru:БТР-152]]
[[fi:BTR-152]]
[[en:BTR-152]]
199.076

lần sửa đổi