Khác biệt giữa các bản “Trận Ia Đrăng”

không có tóm lược sửa đổi
|commander2=[[Thomas W. Brown]]<br />[[Hal Moore|Harold G. Moore]] (X-Ray)<br />[[Robert McDade]] (Albany)
|strength1=Toàn chiến dịch: 3 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn đặc công.<br />
Tại Ia Đrăng: Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 1 - /Trung đoàn 33 (khoảng 2.000 bộ binh nhẹ)<br />
|strength2=Toàn chiến dịch: Lữ đoàn 3 Không Kỵ Hoa Kỳ, 2 Chiếnchiến đoàn biệt động quân, 2 chiến đoàn Dù, chiếnChiến đoàn 3 thiết giáp VNCH.<br />
Tại Ia Đrăng: 3 tiểu đoàn Không Kỵ (Hơn 1.000 quân)<br />Phi pháo và không quân yểm trợ (bắn 6000 loạt/ngày, không quân xuất kích 300 phi vụ/ngày. 24 box [[B-52]])
|casualties1='''''Tại Ia Đrăng:'''''<br/>'''Theo QĐNDVN:''' 208 chết, 146 bị thương <ref>Theo Hồi kí Tướng Đặng Vũ Hiệp, chính ủy mặt trận tiền phương</ref><br />'''Theo Hoa Kỳ:''' 1.037 chết (634 ở Bãi đáp X-ray và 403 ở Bãi đáp Albany)
'''''Tính chung cho chiến dịch Ia Drang (không chỉ cho các trận đánh này):'''''<br />
'''Theo QĐNDVN:''' 554 chết và 669 bị thương <ref>Viện Lịch sử quân sự, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, NXB QĐND, 2003</ref><br />'''Theo Hoa Kỳ:''' 1.519 chết theo cách [[đếm số xác người]] [http://vietnam.vassar.edu/ladrang01.html]
|casualties2='''''Tại Ia Đrăng:''''' 234 chết, 245 bị thương (79 chết, 121 bị thương ở Bãi đáp X-ray và 155 chết, 124 bị thương ở Bãi đáp Albany)<br />
'''''Tính chung cho chiến dịch Ia Đrăng (không chỉ cho các trận đánh này):'''''<br />
'''Trận Ia Đrăng''' là một trong những trận lớn đầu tiên giữa [[Quân đội Hoa Kỳ]] và [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] trong thời kỳ [[Chiến tranh Việt Nam]].
 
Trận đánh là 1 phần trong chiếnChiến dịch Plei Me (từ ngày 19 tháng 10 đến ngày 26 tháng 11 năm 1965). Trận đánh gồm 2 giai đoạn này xảy ra giữa [[14 tháng 11]] tới [[18 tháng 11]] năm [[1965]] tại phía tây bắc [[Plei Me]] ở [[Tây Nguyên]] của [[Nam Việt Nam]]. Tên trận đánh lấy theo tên của [[Sông Đrăng]] chảy qua thung lũng phía tây bắc của Plei Me, nơi đó trận đánh diễn ra. "Ia" có nghĩa là "sông" trong tiếng [[người Thượng]].
 
== Bối cảnh ==
Tây Nguyên thuộc vùng II chiến thuật của [[Việt Nam Cộng hòa]] và là mặt trận Tây Nguyên (hay mặt trận B3) với [[Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam]]. Từ cuối năm 1964, Trung đoàn 2 bộ binh và Tiểu đoàn 409 đặc công của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] (QĐNDVN) đã tiến hành một số trận đánh với 5 tiểu đoàn của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]] (QLVNCH) và giành thắng lợi.
 
Tháng 6 năm 1965, Tổng thống Mỹ Johnson phê duyệt áp dụng chiến lược quân sự tìm và diệt ở miền Nam Việt Nam do Westmoreland vạch ra. [[Quân đội Hoa Kỳ]] (QĐHK) sẽ làm lực lượng chủ lực để “bẻ gẫy xương sống Việt Cộng”. Westmoreland thì xem Tây Nguyên là mối đe dọa trước mắt. Tháng 9 năm 1965, Bộ chỉ huy quân Mỹ đã điều đoàn kỵKhông binh không vậnKỵ số 1 lên án ngữ ở An Khê (Gia Lai), ngăn chặn QĐNDVN, cắt Tây Nguyên cùng với đồng bằng ven biển. Quân VNCH thành lập biệt khu 24 gồm 2 tỉnh Kon Tum - Gia Lai và chuyển giao nhiệm vụ tác chiến chủ yếu ở Tây Nguyên cho quân Mỹ để thực hiện kế hoạch "tìm và diệt" trong chiến lược [[Chiến tranh cục bộ]].
 
Trong bối cảnh đó, Bộ tư lệnh chiếnMặt trườngtrận Tây Nguyên của QĐNDVN quyết định thay đổi chủ trương, hạ quyết tâm mở chiến dịch Plei Me nhằm mục đích phối hợp với chiến trường toàn miền Nam tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ để mở rộng và củng cố vùng giải phóng, xây dựng căn cứ, rèn luyện bộ đội và cơ quan chiến dịch. Qua chiến đấu từng bước tìm hiểu quân Mỹ, đồng thời xây dựng lòng tin đánh Mỹ và thắng Mỹ. Thiếu tướng [[Chu Huy Mân]] được chỉ định là Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch, đạiĐại tá [[Nguyễn Chánh]] và thượngThượng tá [[Nguyễn Hữu An]] làm phó tư lệnh. [[Huỳnh Đắc Hương]] giữ chức phó chính ủy, thượngThượng tá Nam Hà là tham mưu trưởng, thượngThượng tá [[Đặng Vũ Hiệp]] làm Phó chủ nhiệm chính trị.
 
Để tiến hành chiến dịch, QĐNDVN cử 3 trung đoàn bộ binh (320, 33, 66), 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm; cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh phá giao thông và hậu cứ địch.
 
Về sử dụng lực lượng: vây đồn PlâyPlei Me do Trung đoàn 33 (thiếu Tiểu đoàn 2), được tăng cường 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm. Bộ phận đánh viện trên đườngĐường 21 là Trung đoàn 320. Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 2 đảm nhiệm đánh địch phản kích. Nghi binh ở Đức Cơ do Tiểu đoàn pháo 200. Nghi binh ở Tân Lạc là đại đội địa phương. Hoạt động ở hướng phối hợp là Tiểu đoàn 15 Gia Rai.
 
Về kế hoạch tác chiến, dự kiến chiến dịch chia làm 3 đợt:
Trung đoàn 33 được lệnh tới chiếm trại Plei Me. Plei Me có vị trí quan trọng sát với đường số 19B nối Đức Cơ với thị xã Pleiku và đường 14 nối Phú Nhơn với Buôn Mê Thuột. Phát hiện ra đối phương cơ động, QLVNCH quyết định cho quân chi viện tới Plei Me. Ngày 23 tháng 10 (12 giờ), Chiến đoàn 3 thiết giáp từ Phú Mỹ hành quân lên Plei Me, gồm 3 chi đoàn M-113 và xe tăng; Tiểu đoàn 21 Biệt động quân, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 42 và 2 khẩu pháo 105mm.
 
Lúc 16 giờ 30 phút, đầu đội hình lọt vào giữa giữa trận địa phục kích của QĐNDVN. Các tiểuTiểu đoàn 634 và 635 của QĐNDVN xung phong đánh vào giữa đội hình. Đến 18h, trận đánh kết thúc, QĐNDVN ghi nhận diệt 59 xe tăng, xe bọc thép và 800 quân VNCH, thu 2 pháo 105mm và 6 xe đạn, 40 súng các loại, bắn rơi 2 máy bay.<ref>Viện Lịch sử quân sự, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, NXB QĐND, 2003</ref>
 
Sau trận này, Trung đoàn 33 QĐNDVN rút khỏitừ Plei Me về khu vực thung lũng Ia Đrăng, cách 10 km về phía Tây để phòng thủ. Còn QĐHK bắt đầu dùng máy bay oanh tác khu vực và chuẩn bị tìm và diệt địch. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh QĐNDVN nhận định:
 
{{cquote|''Ta đã diệt được một phận quan trọng quân cơ động của ngụy buộc quân Mỹ phải vào tham chiến. Nhiệm vụ bao vây của Plei Me đã hoàn thành. Chủ trương của ta mở bao vây, điều chỉnh lại đội hình. Sử dụng 2 trungTrung đoàn 320 và 33 sẵn sàng đánh bại các đợt phản kích tiếp theo của địch.''}}
 
Ngày 29 tháng 10, QĐNDVN chủ động kết thúc đợt 1 chiến dịch, chuyển sang gia đoạn tiếp theo là tập trung lực lượng nhằm vào một cánh quân Mỹ để tiêu diệt địch.
Phía QĐNDVN, ngày 13 tháng 11 năm 1965, Đảng ủy và bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên (mặt trận B3) họp và quyết định sẽ nghênh chiến QĐHK. Chính ủy mặt trận là [[Chu Huy Mân]] chỉ đạo binh sĩ của mình rằng vì họ chưa từng chiến đấu với quân đội Mỹ nên dịp này sẽ đánh và sẽ rút ra được kinh nghiệm. Thực ra, Tiểu đoàn 952 QĐNDVN trước đó vào ngày 11 tháng 11 đã tấn công một đơn vị Mỹ ở Bầu Cạn phá hủy một số máy bay trực thăng và làm bị thương một số binh sĩ đối phương.
 
Bộ chỉ huy trận Ia Đrăng của QĐNDVN đến đóng ở chân núi phía Nam [[Chư Prông]]. Lực lượng của họ bao gồm Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33, dưới sự chỉ huy của [[Nguyễn Hữu An]] (chỉ huy trưởng) và [[Đặng Vũ Hiệp]] (chính ủy), phối hợp với Tiểu đoàn H15 [[Quân Giải phóng miền Nam]] đánh nghi binh ở đường 13 (tuy nhiên tài liệu phương Tây lại cho rằng tiểu đoàn H15 cũng tham gia trận đánh). Đối mặt với họ là Lữ đoàn 3 Air Cavalry (Không Kỵ) của QĐ Hoa KỳQĐHK, bao gồm 3 tiểu đoàn là 1/7 (do Trung tá Harold Moore chỉ huy), 2/7 và 2/5 AirKhông CavalryKỵ, tổng cộng khoảng 500hơn 1.000 quân. Cùng thời gian này, Mỹ huy động 1 tiểu đoàn pháo binh lập 2 trận địa pháo (12 khẩu 105mm) ở tây nam Quênh Kla 2km và đông nam Ia Đrăng 3km để chi viện cho tiểu đoàn 1.
 
Như vậy, xét về quan số tác chiến đơn thuần, QĐNDVN có ưu thế hơn (2.000 quân so với 1.000 quân). Tuy nhiên không thể xét đơn giản như vậy. Quân Mỹ là đội quân nhà giàu, được trang bị hỏa lực rất hùng hậu, trung bình 1 lính Mỹ tại chiến tuyến được 5 lính khác ở tuyến sau hỗ trợ phi pháo, ném bom, tải thương. Trong trận đánh, pháo binh Mỹ bắn 6000 loạt/ ngày, không quân xuất kích 300 phi vụ/ngày (có cả máy bay [[B-52]]), từ đó cho phép ước lượng pháo binh Mỹ tham chiến ít nhất 1 tiểu đoàn, không quân Mỹ tham chiến ít nhất 3 tiểu đoàn (chưa kể hàng trăm lượt trực thăng chuyển quân). Như vậy nếu tính cả lực lượng hỗ trợ tuyến sau thì quân Mỹ lại có ưu thế hơn hẳn.
=== Trận đánh mở màn===
 
Ngày 14 tháng 11, Tiểu đoàn 1/7 AirKhông CavalryKỵ là đổ bộ xuống Bãi đáp X-ray vị trí cách Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66 QĐNDVN) khoảng 200 m. Cùng ngày, nhưng ở vị trí khác QĐHK cho đổ bộ hai tiểu đoàn (thiếu một đại đội) cùng một đại đội pháo. Một đơn vị pháo khác tham gia trấn giữ đường 19B.
 
Sau khi hoàn thành trận địa, QĐHK tập trung pháo binh và máy bay trực thăng bắn phá khu vực Bãi X-ray. 10 giờ 48 phút, quân Mỹ dùng 8 trực thăng đổ bộ bộ phận đi đầu (Đại đội Bravo gọi tắt là Đại đội B) do Đại úy John Herren của Tiểu đoàn 1 (109 lính trong đó có Tiểu đoàn trưởng Trung tá chỉ huy Moore) xuống Bãi X-ray. 35 phút sau, Mỹ tiếp tục đổ Đại đội A quân số 106 lính do Đại úy Tony Nadal chỉ huy. Sau khi nắm được Đại đội A, Tiểu đoàn trưởng Moore cho quân chia làm 2 mũi tiến công vào Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 66
Sau khi bị Tiểu đoàn 9 đẩy lùi, quân Mỹ cụm lại thành hình vòng quanh Bãi đáp X-Ray, ban đêm dùng máy bay thả đèn dù, dùng pháo binh bắn chặn xung quanh đề phòng tập kích.
 
Ngày 15 tháng 11, lúc 5 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 66 QĐNDVN) bất ngờ tấn công Tiểu đoàn 1/7 AirKhông CavalryKỵ QĐHK, lực lượng sử dụng gồm Đại đội 1 và 2 có hai khẩu [[súng cối]] 82mm của Đại đội 15. Tiểu đoàn triển khai cách địch khoảng 150m, dùng hai khẩu cối 82mm bắn 14 quả sau đó lệnh cho Đại đội 1 và 2 xung phong. Bộ đội Tiểu đoàn 7 QĐNDVN dùng 1 trung đội đột kích với 3 khẩu [[B-40]], 6 [[RPD]], 3 thượng liên, 13 AK vào diệt điện đài và đánh giáp lá cà với quân Mỹ. Sau vài phút rối loạn, quân Mỹ đã đánh trả ác liệt. Phía Mỹ có máy bay trợ chiến bằng bom và tên lửa. Đến đêm, máy bay Mỹ đến thả [[bom napalm]] xuống trận địa lúc này đang lẫn lộn cả quân của hai phía. QĐHK thương vong thêm 24 lính chết và 20 bị thương<ref>Merle L. Pribbenow Military Review – January-February 2001</ref>
 
Sau trận tập kích, Tiểu đoàn 7 rời khỏi trận địa. Trước khi rút, tiểu đoàn lệnh Đại đội 1 để lại một trung đội và hai khẩu súng cối để phục kích nếu trực thăng Mỹ xuống lấy xác thì đánh. Trên đường rút, bị máy bay và pháo binh đánh chặn, các đại đội của Tiểu đoàn 7 dùng súng bắn rơi tại chỗ 4 chiếc trực thăng.
Tiểu đoàn 8 còn sung sức nhanh chóng cơ động xuống nhận nhiệm vụ mới mà trung đoàn giao (trên đường đi sẵn sàng chiến đấu vì có thể gặp địch). Tiểu đoàn 8 nhận được lệnh, chiều ngày 16 đã cho bộ đội hành quân ngay về vị trí sở chỉ huy trung đoàn. Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 33 QĐNDVN) hành quân đến trợ chiến nhưng lạc đường. Nửa đêm về sáng ngày 17, Tiểu đoàn 7 lại tấn công đối phương gây thiệt hại nặng cho Tiểu đoàn 1/7 QĐHK buộc đơn vị này phải rút lui. Giai đoạn thứ hai của trận Ia Đrăng bắt đầu.
 
Ở hướng khác, ngày 17 tháng 11, Tiểu đoàn 2/7 AirKhông CavalryKỵ QĐHK đổ bộ xuống Bãi đáp Albany. Họ phát hiện ra vị trí của Tiểu đoàn 8 QĐNDVN ở bờ sông Ia Đrăng và tổ chức tấn công lúc đơn vị này đang nghỉ trưa. Nhưng chính họ lại bị QĐNDVN phục kích.
 
Lực lượng Tiểu đoàn 8 có ba đại đội bộ binh và một đại đội trợ chiến (Đại đội 10) ngoài ra còn được tăng cường một đại đội súng máy 12,7 mm (6 khẩu, đạn đầy đủ). Đội hình hành quân theo đội hình chiến dấu tao ngộ sẵn sàng chiến đấu cao, đặc biệt khi đi đến ngã ba đường làng Tung và làng Sinh. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Lê Xuân Phôi cho tất cả dừng lại triển khai đội hình chuẩn bị chiến đấu, đồng thời cho liên lạc báo cho Đại đội 8 biết tình hình.
Người dùng vô danh