Khác biệt giữa các bản “Sóc chuột”

n
không có tóm lược sửa đổi
(Trang mới: “{{Taxobox | name = Sóc chuột | fossil_range = | image = Tamias_minimus.jpg | image_width =220px | image_caption = Least chipmunk | regnum = Animalia | …”)
 
n
<small>Văn bản nhỏ</small>{{Taxobox
| name = Sóc chuột
| fossil_range =
| subdivision = 3, xem [[#Classification|bài]]
}}
'''Tamias''' là một [[chi]] sóc nhỏ có sọc trên lưng ([[tiêngtiếng Anh]]: chipmunk, [[tiếng Việt Nam]]: sóc chuột). Có 1 loài sống ở [[Bắc Mỹ]] và một loài sống ở Á Châu gọi là [[sóc chuột Siberia]].
Sóc chuột có thể gồm chung 1 chi ''Tamias'' hay chia ra ra 3 phân chi:
''Tamias'', gồm loài chuột sóc ở phía đông [[Mỹ châu]]; ''[[Eutamias]]'', gồm [[sóc chuột Siberia]] và ''[[Neotamias]]'', gồm 23 loài còn lại ở phía tây.
==Thức ăn==
Chuột sóc là loại ăn tạp . Các thứ nó ăn gôm có hạt, đậu, trái cây, trứng chim, cóc nhỏ, nấm, giun, côn trùng và một đôi khỉ những con vật nhỏ như chuột mới sinh.<ref name=hazard/><ref>[http://www.nhptv.org/natureworks/chipmunk.htm Eastern Chipmunk - Tamias striatus - NatureWorks<!-- Bot generated title -->]</ref> Đầu mùa thu, sóc chuột bắt đầu dự trử thức ăn trong hang của chúng để dành ăn trong mùa đông . Một vài loài khác lại cât giấu thức ăn vào nhiều chổ khác nhau . Thường thường chúng sống trong ổ cho đến mùa xuân. Chúng có thể phùng miệng ra và dùng má như là túi đựng thức ăn để đem về tổ.<ref>[http://www.wvdnr.gov/Wildlife/Magazine/Archive/04Fall/Eastern_Chipmunk.shtm West Virginia Wildlife Magazine: Wildlife Diversity Notebook. Eastern chipmunk]</ref>
==Sinh thái và đời sống==
Chuột sóc phía đông giao phối vào đầu mùa xuân và đầu mùa hè, mổi lần sinh ra khoảng 4 hay 5 sóc con, 2 lần trong một năm.<ref name=hazard>{{cite book | last = Hazard | first = Evan B. | title = The Mammals of Minnesota | publisher = University of Minnesota Press | year = 1982 | pages = 52–54 | url = http://books.google.co.uk/books?id=sjoQK1bedB0C&pg=PA53&dq=eastern+chipmunk+mate#PPA54,M1 | isbn = 0-8166-0952-7}}
Sóc chuột có chức năng quan trọng trong sinh thái học. Chúng rải hạt cũa các cây và rải phấn từ những nấm mà chúng ăn, do dó giúp cho cây và nấm sinh sôi thêm.<ref>{{cite book | last = Apostol | first = Dean | coauthors = Marcia Sinclair | title = Restoring the Pacific Northwest: The Art and Science of Ecological Restoration in Cascadia | publisher = Island Press | year = 2006 | page = 112 | url = http://books.google.co.uk/books?id=CsGyhzFBjyAC&pg=PA112&dq=chipmunk+sporocarps| isbn = 1-55963-078-7}}</ref>
 
Sóc chuột xây dựng những chiếc tổ to lớn có thể dài hơn 3,5 m và có nhiều lối đi vào được giấu kín . Chổ ngủ được giử rất là sạch sẻ. Chúng là con mồi cho những loài hữu nhủ và chim ăn thịt khác. Trong vài trường hợp chúng lại tấn công những ổ chim để cướp trứng.
 
Chúng thường thọ khoảng 3 năm, tuy nhiên đã có con sống khoảng 9 năm khi bị giam cầm.<ref>[http://www.essortment.com/information-chipmunks-56048.html Information on Chipmunks] http://www.essortment.com/information-chipmunks-56048.html</ref>
File:Chimps2.theora.ogv|Sóc chuột ở phía bắc Wisconsin, Mỹ
File:Streifenhörnchen Zion.jpg|Sóc chuột phía tây ở [[Zion National Park]], [[Utah]], Mỹ
File:1993 streifenhoernchen.ogg‎|Sóc chuột phía tây ở [[Capitol Reef National Park]], Utah, USAMỹ (39 sgiây)
File:Eastern_Chipmunk, Gatineau Park.jpg|Sóc chuột phía đông (''Tamias striatus''), [[Quebec]], Canada
File:Eastern Chipmunk, Ontario, Canada.jpg|Sóc chuột phía đông ở Erindale Park, [[Mississauga]], [[Ontario]], Canada
1.645

lần sửa đổi