Khác biệt giữa các bản “Song Hào”

Tháng 12 năm 1944, ông được chỉ định làm Bí thư Khu căn cứ Nguyễn Huệ. Tháng 8 năm 1945, ông được cử làm đại biểu đi dự [[Đại hội quốc dân]] tại [[Tân Trào]]. Sau đó ông phụ trách Cứu quốc quân cướp chính quyền tại hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang.
 
=== SauCông Cáchtác mạngchính thángtrị 8trong quân đội ===
Sau [[Cách mạng tháng 8]], ông là Xứ ủy viên Bắc Kỳ của Kỳ bộ Việt Minh, phụ trách liên tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên... Tháng 12 năm 1947, ông là Chính ủy Liên khu 10, Khu ủy viên, Bí thư Quân khu ủy. Đến năm 1950, ông là Chính ủy khu Tây Bắc, Bí thư Ban cán sự bộ đội tình nguyện vùng Thượng [[Lào]]. Năm 1951, ông là Chính ủy [[Đại đoàn 308]], Bí thư Đại đoàn ủy.
 
Sau [[Cách mạng tháng 8]], ông là Xứ ủy viên Bắc Kỳ của Kỳ bộ Việt Minh, phụ trách liên tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên.
Tháng 5 năm 1955, ông được giao công công tác xây dựng quân đội chính quy và được cử làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng Quân ủy viên. Năm 1959, ông được phong quân hàm [[Trung tướng]] trong đợt phong hàm chính quy đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (cùng được phong Trung tướng đợt này còn có các tướng [[Nguyễn Văn Vịnh]], [[Hoàng Văn Thái]], [[Trần Văn Trà]])<ref>[http://www.thuvienluat.com.vn/chitiet.asp?id=29736] SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH PHỦ SỐ 036/SL NGÀY 31 THÁNG 8 NĂM 1959.</ref>.
 
Tháng 12 năm 1947, ông là Chính ủy Liên khu 10, Khu ủy viên, Bí thư Quân khu ủy.
Tại [[Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam|Đại hội đại biểu toàn quốc]] [[Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam III|lần III]] (năm [[1960]]), [[Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV|lần IV]] (năm [[1976]]) và [[Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam V|lần V]] (tháng 3-[[1982]]) của Đảng, ông được bầu làm ủy viên [[Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Ban chấp hành Trung ương Đảng]]. Ông được cử giữ chức ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, trưởng Ban kiểm tra Quân ủy trung ương (khóa III). Được Ban chấp hành Trung ương cử vào Ban Bí thư (khóa IV), phân công làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương.
 
Đến năm 1950, ông là Chính ủy khu Tây Bắc, Bí thư Ban cán sự bộ đội tình nguyện vùng Thượng [[Lào]].
Tháng 3 năm 1961, ông được cử giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (thay cho tướng [[Nguyễn Chí Thanh]] vào nam), kiêm thứ trưởng Bộ Quốc phòng, phó bí thư [[Đảng ủy Quân sự Trung ương (Việt Nam)|Quân ủy trung ương]].
 
Năm 1951, ông là Chính ủy [[Đại đoàn 308]], Bí thư Đại đoàn ủy.
Sau 1975, ông vẫn tiếp tục công tác trong quân đội cho đến tháng 4 năm 1982, ông được phân công giữ chức Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội đến tháng 2 năm 1987.
 
Tháng 5 năm 1955, ông được giao công công tác xây dựng quân đội chính quy và được cử làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ủy viên Tổng Quân ủy.
Từ tháng 2 năm 1990 đến tháng 12 năm 1992, ông được chỉ định làm chủ tịch lâm thời [[Hội Cựu chiến binh Việt Nam]].
 
Tháng 5 năm 1955, ông được giao công công tác xây dựng quân đội chính quy và được cử làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng Quân ủy viên. Năm 1959, ông được phong quân hàm [[Trung tướng]] trong đợt phong hàm chính quy đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (cùng được phong Trung tướng đợt này còn có các tướng [[Nguyễn Văn Vịnh]], [[Hoàng Văn Thái]], [[Trần Văn Trà]])<ref>[http://www.thuvienluat.com.vn/chitiet.asp?id=29736] SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH PHỦ SỐ 036/SL NGÀY 31 THÁNG 8 NĂM 1959.</ref>.
 
Tại [[Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam|Đại hội đại biểu toàn quốc]] [[Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam III|lần III]] (năm [[1960]]), [[Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV|lần IV]] (năm [[1976]]) và [[Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam V|lần V]] (tháng 3-[[1982]]) của Đảng, ông được bầu làm ủy viên [[Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Ban chấp hành Trung ương Đảng]]. Ông được cử giữ chức ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, trưởng Ban kiểm tra Quân ủy trung ương (khóa III). Được Ban chấp hành Trung ương cử vào Ban Bí thư (khóa IV), phân công làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương.
 
Ông được cử giữ chức ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Trưởng Ban kiểm tra Quân ủy trung ương (khóa III). Được Ban chấp hành Trung ương cử vào Ban Bí thư (khóa IV), phân công làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương.
 
Tháng 3 năm 1961, ông được cử giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (thay cho tướng [[Nguyễn Chí Thanh]] vào nam), kiêm thứThứ trưởng Bộ Quốc phòng, phóPhó bí thư [[Đảng ủy Quân sự Trung ương (Việt Nam)|Quân ủy trung ương]].
 
Ông được thăng quân hàm [[Thượng tướng]] năm 1974 (vẫn cùng các tướng [[Hoàng Văn Thái]], [[Trần Văn Trà]]).
 
Sau 1975, ông vẫn tiếp tục công tác trong quân đội cho đến tháng 4 năm 1982.
 
SauKhi 1975,chuyển ông vẫn tiếp tụcsang công tác trong quân đội cho đến tháng 4 nămchính 1982quyền, ông được phân công giữ chức Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội đến tháng 2 năm 1987.
 
Từ tháng 2 năm 1990 đến tháng 12 năm 1992, ông được chỉ định làm chủChủ tịch lâm thời [[Hội Cựu chiến binh Việt Nam]].
 
Ông đã được bầu làm đại biểu [[Quốc hội Việt Nam|Quốc hội]] nước [[Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam]] khóa [[Quốc hội Việt Nam khóa IV|IV]] và khóa [[Quốc hội Việt Nam khóa VI|VI]].
Người dùng vô danh