Khác biệt giữa các bản “Núi Bân”

n
nhỏ
n (nhỏ)
 
==Tên gọi==
Khi xưa, không rõ núi tên gì, nhưng từ khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ cho ban xẻ núi Bân thành ba tầng, để lập đàn tế cáo trời thì nhânngười nhândân gọi núi là ''Động Tầng, Ba Tầng, Tam Tầng, Ba Vành, Hòn Thiên''.
 
Theo PGS.TS. Đỗ Bang, thì rất có thể Nguyễn Huệ là người đã đặt tên ''Bân'' cho núi (nơi mà ông chọn để đắp đàn), với nghĩa: ''trong và ngoài đều hoàn mỹ''. Sách ''[[Hoàng Lê nhất thống chí]]'' (bản của [[Ngô Thời Chí]]) chép nhầm chữ ''Bân'' ([[chữ Hán]]) thành chữ ''Sam''; và khi phiên âm, các tác giả [[Trần Trọng Kim]], [[Hoa Bằng]], [[Phan Trần Chúc]] đều đã ghi nhầm chữ ''Bân'' thành chữ ''Bàn''.
 
==Đàn Nam Giao Tây Sơn==
Để trở thành Đàn Nam Giao, những người thiết kế và thi công đã ban xẻ núi Bân thành ba khối hình nón cụt chồng lên nhau tăng dần theo chiều cao. Từ chân núi lên đỉnh ở độ cao 37 [[m]], là tầng thứ nhất có [[chu vi]] 220 [[m]]. Bề rộng của tầng này không đều nhau. Ngay ở chính giữa mặt tầng thứ nhất về [[phía Tây Nam]], hiện còn dấu vết một tầng phụ cao 1m1 m.
 
Tầng thứ hai có chu vi 122,5 m, chiều cao so với tầng thứ nhất là 1,65 m.
Đường lên đàn theo bốn hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc), bề rộng các con đường càng lên cao càng thu hẹp dần, bề ngang ở tầng thứ nhất là 5,2 m, ở tầng thứ hai chỉ còn 4 m...<ref> Các con số ghi theo bản ''Lý lịch Di tích lịch sử văn hóa núi Bân'', hiện lưu tại Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng tỉnh [[Thừa Thiên Huế]].</ref>
Và để sử dụng lâu dài, sau khi Nguyễn Huệ làm lễ lên ngôi và xuất quân ra [[miền Bắc Việt Nam|Bắc]] năm [[1788]], người ta đã dùng gạch <ref>Các viên gạch có khổ rộng, mỏng, thô, đủ các kích cỡ: rộng từ 14 [[cm]] đến 17 cm, dày từ 0,3cm3 cm đến 0,4 cm, dài không rõ vì mớ gạch xuất lộ đều đã bị vỡ vụn.</ref> và đá xếp thành ba vòng tròn bó vỉa quanh ba tầng đàn (hiện nay chỉ còn lại dấu vết) nhằm hạn chế sự xói lở. Nhờ vậy, đàn vẫn được tiếp tục sử dụng để làm lễ cáo trời cho đến khi kinh đô [[Phú Xuân]] (Huế) bị chúa [[Nguyễn Phúc Ánh]] dẫn quân ra chiếm lấy vào mồng 3 [[tháng 5]] năm [[Tân Dậu]] (15 [[tháng 6]] năm [[1801]]).
==Câu đối liên quan==
==Khu tưởng niệm==
Khu tưởng niệm anh hùng dân tộc [[Hoàng đế Quang Trung]] tại di tích lịch sử núi Bân, có diện tích 9,5 [[ha]] được khởi công xây dựng từ năm 2008 với nhiều hạng mục, trong đó tượng đài đặc tả chân dung vua Quang Trung cao 21 m, thân tượng cao 12m được làm bằng đá hoa cương. Ngày 18 [[tháng 11]] năm [[1988]], Núi Bân (Bân Sơn) được công nhận là "di tích lịch sử cấp quốc gia" theo Quyết định số 288/QĐ-VH của [[Bộ Văn hóa-Thông tin]] <ref> Xem thêm bài viết "Theo dấu vương triều Tây Sơn" [http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120227/theo-dau-tich-vuong-trieu-tay-son.aspx].</ref>.
 
== Chú thích ==
{{reflist}}
==Tài liệu tham khảo==
*PGS.TS. Đỗ Bang, "Bân Sơn và ý nghĩa của sự kiện 22 tháng 12 năm 1788" in trong sách ''Tây Sơn - Thuận Hóa và anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ-Quang Trung''. Nxb Chính Trị Quốc Gia, 2009.
*ThS. Đỗ Hữu Hà, "Bảo tồn và phát huy giá trị di tích phong trào Tây Sơn ở Thừa Thiên Huế" in trong sách đã dẫn trên.
*GS. Nguyễn Khắc Thuần, ''Danh tướng Việt Nam'' (tập 3). Nxb Giáo Dục, 2005.