Khác biệt giữa các bản “Biển Baltic”

 
Chiều cao sóng thường thấp hơn nhiều so với sóng trong biển Bắc. Các cơn bão dữ dội và đột ngột, thường xuyên quét qua bề mặt, do sự khác biệt nhiệt độ lớn và thời gian gió tiếp cận lâu dài. Gió mùa cụng cây trên những thay đổi nhỏ về mực nước biển khoảng 0,5&nbsp;m .<ref name=Alhonen/>
 
== Sinh học ==
[[Image:Phytoplankton bloom in the Baltic Sea (July 3, 2001).jpg|thumb|[[Phytoplankton]] bloom in the Baltic Proper, 3 July 2001.]]
Khoảng {{convert|100000|km²|0|abbr=on}} diện tích đáy biển Baltic (chiếm 1/4 diện tích đáy biển) là vùng biển chết. Có nhiều nước mặn tồn tại dưới đáy, tách biệt với các nguồn nước mặt và nước khí quyển. Việc ngăn cách này là suy giảm hàm lượng ôxy trong đới biển chết. Trong đới này chủ yếu có vi khuẩn sinh sống, chúng tiêu hóa chất hữu cơ và thảy ra hydro sulfua. Do đới kỵ khí này lớn nên hệ sinh thái đáy biển khác biệt với hệ sinh thái của vùng biển Đại Tây Dương lân cận.
 
Các kế hoạch tạo ra những khu vực có ôxy nhân tạo bằng hiện tượng phú dưỡng đã được [[đại học Gothenburg]] và Inocean AB đề xuất. Đề xuất này dự kiến sẽ dùng bơm điều hướng để thổi không khí vào các vùng nước ở độ sâu khoảng 130m<ref>{{cite web|title=Oxygenation at a Depth of 120 Meters Could Save the Baltic Sea, Researchers Demonstrate|url=http://www.sciencedaily.com/releases/2011/04/110418141617.htm|publisher=Science Daily}}</ref>
 
Vì biển Baltic còn trẻ nên chỉ có vài loài đặc hữu như ''[[Parvicardium hauniense]]'' và tảo sinh sản vô tính ''[[Fucus radicans]]''. Có nhiều loài sinh vật biển thích nghi với độ mặn thấp như [[herring]] biển Baltic (nhỏ hơn so với loài trong Đại Tây Dương). Hệ động vật đáy bao gồm chủ yếu là ''[[Monoporeia affinis]]'', nguyên thủy chúng là loài nước ngọt. Do thiếu vắng hoạt động [[thủy triều]] làm ảnh hưởng đến các loài sinh vật biển so với Đại Tây Dương.
 
Hệ động vật cá của Baltic gồm các loài nước mặn như [[cod]], herring, [[hake]], [[plaice]], [[flounder]], [[shorthorn sculpin]] and [[turbot]], và nước ngọt như [[perch]], [[Northern pike|pike]], [[Freshwater whitefish|whitefish]] và [[Common Roach|roach]].
 
Có sự suy giảm số loài động vật từ Belts đến [[vịnh Bothnia]]. Độ mặn giảm dọc theo con đường này làm ảnh hưởng đến chức năng sinh lý và môi trường sống.<ref>{{cite book|title=Oceanography: An Illustrated Guide |editor-first=C. P. |editor-last=Summerhayes |editor2-first=S. A. |editor2-last=Thorpe |chapter=Life in Estuaries, Salt Marshes, Lagoons and Coastal Waters |first=A. P. M. |last=Lockwood |first2=M. |last2=Sheader |first3=J. A. |last3=Williams |edition=2nd |year=1998 |publisher=Manson Publishing |location=London |isbn=1-874545-37-5 |page=246}}</ref>
 
Các ảnh vệt tinh chụp trong tháng 6 năm 2010 thể hiện hiện tượng [[nước nở hoa]] mạnh bao phủ diện tích 377.000 km² trên biển Baltic. Khu vực tảo phát triển khéo dài từ Đức và Ba Lan đến Phần Lan. Các nhà nghiên cứu về hiện tượng này cho biết nước nở hoa đã từng diễn ra trong mỗi mùa hè trong vòng vài thập niên. Phân bón thải ra từ các vùng đất nông nghiệp xung quanh đã làm trầm trọng thêm vấn đề và dẫn đến sự gia tăng [[phú dưỡng]].<ref>{{cite news|title=Satellite spies vast algal bloom in Baltic Sea|url=http://www.bbc.co.uk/news/science-environment-10740097|accessdate=27 July 2010|newspaper=BBC News|date=23 July 2010| archiveurl= http://web.archive.org/web/20100726191305/http://www.bbc.co.uk/news/science-environment-10740097| archivedate= 26 July 2010 <!--DASHBot-->| deadurl= no}}</ref>
 
== Các thành phố ==