Khác biệt giữa các bản “Giang Tây”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
| Website = http://www.jiangxi.gov.cn/<br />(bằng [[chữ Hán giản thể]])
}}
 
{{Infobox Chinese
|c=江西
|p=JiāngXī<br />{{Audio|zh-Jiangxi.ogg|发音}}
|gan=Kongsi
}}
'''Giang Tây''' là một [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] nằm ở [[Hoa Đông|đông nam]] [[Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]]. Giang Tây trải dài từ bờ [[Trường Giang]] ở phía bắc đến các khu vực cao hơn ở phía nam và phía đông, tỉnh có ranh giới giáp với [[An Huy]] ở phía bắc, [[Chiết Giang]] ở phía đông bắc, [[Phúc Kiến]] ở phía đông, [[Quảng Đông]] ở phía nam, [[Hồ Nam]] ở phía tây, và [[Hồ Bắc]] ở phía tây bắc.
 
Tên gọi "Giang Tây" bắt nguồn từ tên một [[đạo (đơn vị hành chính)|đạo]] dưới thời [[nhà Đường]] được lập vào năm 733, [[Giang Nam Tây đạo]] ([[wikt:江|江]][[wikt:南|南]][[wikt:西|西]][[wikt:道|道]], đạo phía Tây [[Giang Nam]]).<ref>{{chú thích web|title=趣味文字:中国各省及自治区名称历史由来和变化|url=http://www.people.com.cn/GB/shenghuo/1090/2435218.html|publisher=人 民 网|accessdate=2012-11-6}}</ref> Giản xưng của Giang Tây là ''Cám'' ([[wikt:赣|赣]]), theo tên [[sông Cám]] chảy từ phía nam lên phía bắc tỉnh rồi đổ vào Trường Giang. Giang Tây cũng được gọi là "Cám Bà đại địa" (贛鄱大地) nghĩa là "vùng đất lớn của sông Cám và [[hồ Bà Dương]]".
 
== Lịch sử ==
Vào thời gian tồn tại [[nhà Hạ]] và [[nhà Thương]] ở [[Trung Nguyên]], địa bàn Giang Tây thuộc [[văn minh Trường Giang]] cổ đại, độc lập với [[văn minh Hoàng Hà]] cổ đại, đây là một nền văn minh nông nghiệp và phát triển về [[đồng điếu]], là vùng bắt đầu có nền văn minh lúa gạo đầu tiên trên thế giới (huyện [[Vạn Niên]] ở Giang Tây đã có lịch sử trồng lúa khoảng 12.000 năm).<ref>{{chú thích web|title=万年仙人洞人种出世界首棵水稻 赣鄱是世界的稻作起源中心区|url=http://www.jx.xinhuanet.com/ztdj/2004-09/17/content_2888697.htm|publisher=新华网|accessdate=2012-11-6}}</ref>. Cư dân tại Giang Tây khi đó là người [[Bách Việt]].
 
Vào thời [[Xuân Thu]], phần phía bắc của tỉnh Giang Tây ngày nay nằm trên biên giới phía tây của [[Ngô (nước)|nước Ngô]]. Trong thời kỳ này, sử sác có ghi lại hai điểm định cư tại Giang Tây là Ngải (艾) và Phan 番, sau viết là 潘). Sau khi [[Việt (nước)|nước Việt]] chinh phạt nước Ngô vào năm 477 TCN, [[Sở (nước)|nước Sở]] đã nắm quyền kiểm soát bắc bộ Giang Tây. Nước Sở chinh phục nước Việt vào năm 333 TCN, song bản thân nó lại bị [[Tần (nước)|nước Tần]] thôn tính vào năm 223 TCN.
 
Sau khi thống nhất Trung Quốc, triều đình [[nhà Tần]] đã lập nên [[Hoài Nam quận|Cửu Giang quận]] bao trùm phần lớn Giang Tây, trị sở của quận này nay thuộc [[Thọ (huyện)|Thộ huyện]] tại tỉnh [[An Huy]], thiết lập bảy huyện tại vùng thuộc Giang Tây ngày nay. Tuy nhiên, quận này hoạt động không hiệu quả và đã chấm dứt tồn tại ngay sau khi nhà Tần sụp đổ.
 
Khoảng năm 202 TCN, thời [[Hán Cao Tổ]], triều đình [[nhà Hán]] đã thiết lập [[Dự Chương quận]] (sông Cám trước đây gọi là sông Dự Chương), trị sở của quận này đặt tại Nam Xương (ý là "Xương đại nam cường" và "Nam phương xương thịnh"), đây cũng là quận đầu tiên mà các triều đại Trung Quốc thiết lập tại Giang Tây. Dự Chương quản lý 18 huyện, cương vực đại thể tương đương với Hồ Nam ngày nay. Các thành phố lớn tại Giang Tây hiện nay là Nam Xương, Cống Châu, Cát An đã được phát triển từ các huyện thành vào thời gian đó. Dưới thời [[Hán Vũ Đế]], toàn quốc được chia thành 13 châu, Dự Chương quận được quy thuộc [[Dương châu]]. Thời [[Tam Quốc]], Giang Tây thuộc quyền quản lý của [[Đông Ngô]]. Năm 291 SCN, vào thời [[nhà Tấn|Tây Tán]], Giang Tây đương nâng thành một [[châu]] riêng là [[Giang châu]] (江州). Thời [[Nam-Bắc triều (Trung Quốc)|Nam-Bắc triều]], Giang Tây nằm dưới quyền kiểm soát của các Nam triều.
 
Thời [[nhà Tùy]], triều đỉnh sửa đổi chế độ châu huyện thành chế độ châu quận huyện, trên địa phận Giang Tây lúc đó có bảy quận và 24 huyện. Dưới thời [[nhà Đường]], các quận bị bãi bỏ và đều trở thành "châu", Giang Tây khi đó có 8 châu ([[Hồng châu]], [[Nhiêu châu]], [[Kiền châu]], [[Cát châu]], [[Giang châu]], [[Viên châu]], [[Phủ châu]], [[Tín châu]]) và 37 huyện. Năm Trinh Quán thứ nhất thời [[Đường Thái Tông]], toàn quốc được chia thành 10 đạo, Giang Tây thuộc [[Giang Nam đạo]]. Đến năm 733, [[Đường Huyền Tông]]điều chỉnh thành 15 đạo, tám châu trên địa phận Giang Tây lệ thuộc [[Giang Nam Tây đạo]]. Tên gọi "Giang Tây" cũng bắt nguồn từ đạo này
[[Tập tin:Qing-Jingdezhen.jpg|nhỏ|trái|Buôn bán đồ sứ tại Cảnh Đức Trấn thời nhà Thanh]]
Sau khi nhà Đường sụp đổ vào năm 907, Trung Quốc bị phân liệt trong thời [[Ngũ Đại Thập Quốc]]. Đầu tiên, Giang Tây thuộc nước [[Ngô (Thập quốc)|Ngô]], sau đó thuộc nước [[Nam Đường]]. Cả hai nước đều đặt quốc đô ở [[Nam Kinh]] ngày nay, ở xa về phía hạ lưu Trường Giang. Năm Giao Thái thứ nhất, Nam Đường Nguyên Tông [[Lý Cảnh]] quyết định thiết lập nam đô tại Hồng châu, vì thế đã thăng Hồng châu thành Nam Xương phủ.
 
Đến thời [[nhà Tống]], đơn vị trên cấp châu được chuyển thành lộ, khu vực Giang Tây có 9 châu, 4 quân <!--một cấp hành chính cổ, không phải quận-->, 68 huyện, đại bộ phận lệ thuộc [[Giang Nam Tây lộ]], song có một bộ phận lệ thuộc [[Giang Nam Đông lộ]].
 
Vào thời [[nhà Nguyên]], triều đình thiết lập [[Giang Tây đẳng xứ hành trung thư tỉnh]] (江西等处行中书省), địa hạt bao trùm tuyệt đại bộ phận Giang Tây ngày nay (một bộ phận phía đông bắc lệ thuộc [[Giang Chiết đẳng xứ hành trung thư tỉnh]]) và phần lớn tỉnh [[Quảng Đông]] hiện nay. Các hành tỉnh thời Nguyên được chia thành các lộ, trực lệ châu, châu và huyện. Tại Giang Tây, có 13 lộ là Long Hưng, Cát An, Nam Khang, Cống Châu, Kiến Xương, Giang Châu, Bam An, Thụy Châu, Viên Châu, Lâm Giang, Phủ Châu, Nhiêu Châu, Tín Châu cùng hai trực lệ châu là Nam Phong và Duyên Sơn, cùng vưới 48 huyện, 16 huyện cấp châu. Từ thời Trung Đường trở đi, Giang Tây đã có bước phát triển lớn về kinh tế và văn hóa. Vào thời ba triều Tống, Nguyên, Minh, Giang Tây là một trong các tỉnh phồn vinh nhất Trung Quốc. Điều này thể hiện trong nông nghiệp như sản xuất lương thực hay thủ công nghiệp như đồ sứ và các khía cạnh kinh tế khác.<ref>張正田,〈淺談宋代江西健訟風氣與客家、江西先民的移民潮〉,《客家雜誌》,256(臺北),2011.10,頁68</ref>
 
 
== Các đơn vị hành chính ==