Khác biệt giữa các bản “Tôn giáo Việt Nam thời Lý”

n
using AWB
n (using AWB)
Nhà Lý đã dựng đền “Đồ đại thành hoàng”, đền “Đồng cổ” (trống đồng), đền thờ [[Hai Bà Trưng]], đền thờ [[Phùng Hưng]], đền thờ [[Phạm Cự Lạng]] ở kinh thành [[Thăng Long]]; nâng lễ thờ thần [[Phù Đổng Thiên Vương]] lên tầm quốc gia<ref name="thq258">Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 258</ref>.
 
Các tục thờ nguyên thủy “vạn vật hữu linh” vẫn còn nhiều. Triều đình cũng tham gia vào đời sống tín ngưỡng với dân gian<ref name="thq258">Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 258</ref>.
 
==Phật giáo==
Các vua Lý kế nghiệp cũng tiếp tục xây dựng chùa chiền, đúc chuông, tô tượng, cử sứ sang Trung Quốc xin [[nhà Tống]] kinh Phật, biến các chùa thành nơi cầu đảo, làm lễ tạ ơn khi chiến thắng quân xâm lược, lễ đại xá… Các quý tộc và nhân dân cũng đóng góp xây dựng nhiều chùa ở các địa phương.
 
Việc chú trọng xây dựng chùa thời Lý được sử gia [[Lê Văn Hưu]] thời [[nhà Trần|Trần]] ghi nhận là “xây tường cao ngất, tạc cột chùa bằng đá, làm chùa thờ Phật lộng lẫy hơn cả cung điện của vua”<ref name="thq258">Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 258</ref>.
 
Chùa chiền mọc lên khắp nơi và trở thành biểu tượng của Phật giáo. Chùa thời Lý được chia làm 3 hạng: Đại, Trung và Tiểu danh lam. Nổi lên các chùa lớn là chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm ([[Bắc Ninh]]), chùa Long Đọi ([[Hà Nam]]). Năm 1049, [[Lý Thái Tông]] cho xây chùa Diên Hựu, dựng cột đá ở giữa ao, làm tòa sen của Phật Quan Âm đặt trên cột đá. Năm 1105, [[Lý Nhân Tông]] cho sửa lại, vét hồ Liên Hoa đài, gọi là hồ Linh Chiểu, ngoài hồ có hành lang chạm vẽ chạy xung quanh, ngoài hồ có hành lang lại đào hồ Bích Trì có cầu bắc qua để đi lại…<ref name="ky649">Kỷ yếu hội thảo khoa học về 1000 năm vương triều Lý và kinh đô Thăng Long, tr 649</ref>.
[[Nho giáo]] cũng được truyền vào từ thời Bắc thuộc. Nho giáo hình thành ảnh hưởng trong xã hội qua hệ thống giáo dục và khoa cử theo mô hình [[Trung Quốc]]. Khi việc học hành được mở mang thì nên lực lượng Nho sĩ ngày càng đông trong xã hội. Tuy nhiên, Nho giáo thời Lý nhìn chung chưa có điều kiện phát triển mạnh mẽ như các triều đại sau<ref name="thq261">Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 261</ref>.
 
Đạo giáo cũng được truyền vào từ thời Bắc thuộc như Phật giáo và Nho giáo, tuy có vai trò ít hơn nhưng vẫn có ảnh hưởng nhất định. Điều đó được thể hiện trong chế độ thi cử, yêu cầu các thí sinh hiểu biết cả 3 tôn giáo này mới có thể đỗ. Đến thời [[Lý Cao Tông]], nhà Lý chính thức tổ chức các kỳ thi Tam giáo. Việc thi cử bằng tam giáo phản ánh ''tam giáo đồng nguyên'' vào thời Lý<ref name="ky598">Kỷ yếu hội thảo khoa học về 1000 năm vương triều Lý và kinh đô Thăng Long, tr 598</ref>; trong đó Nho giáo là hệ tư tưởng dùng để quản lý xã hội, Phật giáo là quốc giáo, còn Đạo giáo có ảnh hưởng nhất định trong các tầng lớp dân cư<ref name="ky598">Kỷ yếu hội thảo khoa học về 1000 năm vương triều Lý và kinh đô Thăng Long, tr 598</ref>.
 
Nhà nghiên cứu Hoàng Quốc Hải phân tích sâu hơn về mối quan hệ ''tam giáo đồng nguyên'' thời Lý như sau<ref>[http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1435&chitiet=19059&Style=1 Tam giáo đồng nguyên - sức mạnh thời Lý (24/10/2010)]</ref>:
{{reflist}}
{{Lịch sử Việt Nam thời Lý}}
 
[[Thể loại:Văn hóa Việt Nam thời Lý]]
[[Thể loại:Tôn giáo Việt Nam theo thời kỳ|L]]
5.681.853

lần sửa đổi