Khác biệt giữa các bản “Lịch sử Đế quốc La Mã”

n
replaced: |thumb| → |nhỏ| (16), |right| → |phải| (4), |left| → |trái| (4), |center| → |giữa|, [[File: → [[Tập tin: (5), [[Image: → [[Hình: (11) using AWB
n (replaced: |thumb| → |nhỏ| (16), |right| → |phải| (4), |left| → |trái| (4), |center| → |giữa|, [[File: → [[Tập tin: (5), [[Image: → [[Hình: (11) using AWB)
[[ImageHình:Roman Empire map.gif|thumbnhỏ|250px|Sự thay đổi về cương thổ của Cộng hòa La Mã, Đế quốc La Mã và Đế chế Byzantine qua từng giai đoạn phát triển. Hình động, click vào để xem sự thay đổi lãnh thổ qua từng thời kỳ.]]
Lịch sử của '''Đế chế La Mã''' (hoặc [[Đế quốc La Mã]], [[tiếng Anh]]: Roman Empire) trải dài qua 16 thế kỷ, được xem như bắt đầu từ năm 27 TCN với sự lên ngôi của hoàng đế Augustus<ref>[http://www.britannica.com/EBchecked/topic/507739/Roman-Empire "Roman Empire – Britannica Online Encyclopedia"]</ref> và có nhiều mốc kết thúc khác nhau, bao gồm sự phân chia cuối cùng thành Tây La Mã và Đông La Mã vào năm 395,<ref>Chester G. Starr, A History of the Ancient World, Second Edition. Oxford University Press, 1974. pp. 670–678</ref> sự diệt vong của [[Đế quốc Tây La Mã]] vào năm 476<ref>Isaac Asimov. Asimov's Chronology of the World. Harper Collins, 1989. trang 110,</ref> và cuối cùng là sự diệt vong của [[Đế quốc Đông La Mã]] vào năm 1453.<ref>Isaac Asimov. Asimov's Chronology of the World. Harper Collins, 1989. trang 198</ref>
 
 
==Những năm cuối của nền Cộng hòa==
[[ImageHình:Castro_Battle_of_ActiumCastro Battle of Actium.jpg‎|thumbnhỏ|lefttrái|Trận Actium]]
Vào cuối thời [[Cộng hòa La Mã]], [[Julius Caesar]] nổi lên, giành nhiều thắng lợi trong các trận chiến bên ngoài và tiêu diệt các đối thủ chính trị của mình. Ông tiến lên nắm quyền lực to lớn cả về chính trị lẫn quân sự. Sự tập trung quyền lực vào tay Caesar đã làm lung lay thể chế Cộng hòa.
 
Những năm đầu triều đại Tiberius diễn ra thái bình khi ông bảo vệ được quyền lực của Đế quốc La Mã và làm đầy thêm ngân khố. Thế nhưng sau đó Tiberius trở nên hoang tưởng và hay nghi ngờ. Năm 19, nhiều người quy tội cho ông vì cái chết của người cháu là [[Germanicus]],<ref>Tacitus, Annals III.16</ref> vốn là một danh tướng nổi tiếng. Năm 23, đến lượt con ruột của Tiberius là [[Julius Caesar Drusus]] cũng chết. Vị hoàng đế bắt đầu một loạt những phiên tòa xử tội mưu phản và các màn tra tấn hành hạ.
 
Tiberius giao quyền cho một viên tướng là [[Sejanus|Lucius Aelius Sejanus]] rồi tới [[Capri (đảo)| đảo Capri]] ở ẩn từ năm 26.<ref>Tacitus, Annals IV.67</ref> Sejanus bắt đầu củng cố quyền lực và ông cũng tiếp tục những màn hành hạ của Tiberius. Vào năm 31, Sejanus được phong là đồng Chấp chính quan (tiếng Anh: consul) cùng Tiberius và cưới cháu gái của hoàng đế là [[Livilla]]. Thế nhưng, ngay trong năm đó, ông lại bị chính thứ mà mình đã lợi dụng để làm bàn đạp tiến thân hại chết: sự hoang tưởng lo sợ của Tiberius. Sejanus và phe cánh của ông bị kết tội mưu phản và xử tử. Những vụ hành hạ tiếp tục kéo dài cho tới khi Tiberius chết vào năm 37.
 
====Caligula (37-41)====
Gaius (thường được gọi là [[Caligula]]), con trai của [[Germanicus]] và [[Agrippina the Elder]], được chọn làm người kế vị. Ông bà nội của Caligula là [[Nero Claudius Drusus]] và [[Antonia Minor]], ông bà ngoại của ông là [[Marcus Vipsanius Agrippa]] và [[Julia the Elder]]. Vì vậy nên ông là hậu duệ của cả Augustus và Livia.
[[FileTập tin:Cor-aabr001903.jpg|lefttrái|thumbnhỏ|Tranh vẽ Caligula vào thời Phục hưng]]
Caligula được mọi người dân La Mã tung hô khi mới lên ngôi vì người ta vẫn còn rất yêu quý cha ông là Germanicus.<ref>Philo of Alexandria, On the Embassy to Gaius II.10.</ref> Vị tân vương khởi đầu suôn sẻ, chấm dứt những màn tra tấn từ thời Tiberius. Nhưng rồi Caligula bỗng nhiên bị bệnh thần kinh và hóa điên. Ông gây ra một loạt chuyện điên rồ. Theo sử sách ghi lại, Caligula đòi đưa con ngựa Incitatus của mình vào Viện nguyên lão.<ref>Suetonius, The Lives of Twelve Caesars, Life of Caligula 55; Cassius Dio, Roman History LIX.14, LIX.28</ref> Ông còn hạ lệnh đưa quân xâm lược đảo Anh để chiến đấu với thần biển [[Neptune]], nhưng giữa chừng lại dừng ở bờ biển, sau đó Caligula cầm gươm chém điên cuồng xuống biển rồi ra lệnh cho quân sĩ làm trò hề khi đi thu nhặt vỏ sò làm chiến lợi phẩm.<ref>Suetonius, The Lives of Twelve Caesars, Life of Caligula 45–47</ref> Nhiều khả năng là Caligula đã loạn luân với ba người chị em ruột của mình.<ref>Cassius Dio, Roman History LIX.11, LIX.22; Suetonius, The Lives of Twelve Caesars, Life of Caligula 24</ref> Ông còn đòi dựng tượng mình ở đền thờ Herod, suýt chút nữa gây nên nổi loạn nếu không có vị vua [[Agrippa I]] can ngăn.<ref>Philo of Alexandria, On the Embassy to Gaius XXX.203.</ref> Caligula có trò vui là bí mật giết hại người khác sau đó mời họ tới cung điện của mình. Khi họ không tới, ông ta nói đùa rằng chắc hẳn họ đã tự tử.<ref>Seneca the Younger, On Anger III.xviii.1.</ref>
 
 
====Nero (54-68)====
[[ImageHình:Dirce.jpg|thumbnhỏ|350px|Tranh ''A Christian Dirce'' của [[Henryk Siemiradzki]] mô tả cảnh một người phụ nữ theo đạo Thiên chúa bị hành quyết bằng cách dựng lại truyền thuyết về [[Dirce]].]]
[[Nero]] chú trọng vào ngoại giao, thương mại, và đóng góp nhiều vào văn hóa. Ông cho xây nhiều nhà hát và khuyến khích các trò mua vui trong đấu trường. Điều này làm người dân thành La Mã rất yêu thích ông, mặc dù thực sự thì ông là một bạo chúa.
 
Triều đại của Nero được đánh dấu bằng một chiến thắng quân sự và sau đó là hòa ước với [[Đế chế Parthia]] (58–63),<ref name="cassiusdio-lxii-23">Cassius Dio, ''Roman History'' [http://penelope.uchicago.edu/Thayer/E/Roman/Texts/Cassius_Dio/62*.html#23 LXII.23].</ref> một cuộc nổi loạn bị dập tắt (60-61),<ref>Tacitus, ''Annals'' [[wikisource:The Annals (Tacitus)/Book 14#31|XIV.31–38]].</ref> và việc thắt chặt sự liên hệ với văn hóa Hy Lạp.<ref name="annals-xiv-20">Tacitus, ''Annals'' [[wikisource:The Annals (Tacitus)/Book 14#20|XIV.20]].</ref> Thế nhưng Nero lại là kẻ tự cao tự đại và luôn căng thẳng với mẹ mình (cuối cùng ám sát bà vào năm 59).<ref>Tacitus, "The Annals".</ref> Ông cũng luôn tìm cách đàn áp những người theo [[Thiên Chúa giáo]], thường đổ tội cho họ là thủ phạm gây ra những bất ổn trong chế độ của mình.
 
Nhiều nhà sử học cho rằng chính Nero đã hạ lệnh đốt kinh thành La Mã trong [[Đại hỏa hoạn thành Roma|vụ cháy nổi tiếng năm 64]] để lấy chỗ xây dựng những công trình của mình.<ref name="Tacitus Annals XV.44">Tacitus Annals XV.44.</ref> Một trong những lý do khiến người ta nghĩ vậy là việc Nero tin mình là một vị thần và xây một cung điện tráng lệ cho ông ta ([[Domus Aurea]]) ngay trên đống đổ nát sau vụ cháy.<ref>Tacitus, Annals XV.42.</ref> Nero cũng nhân cơ hội này để vu tội phóng hỏa cho các tín đồ Thiên chúa giáo và bức hại họ.<ref> name="Tacitus Annals XV.44.<"/ref>
 
Một vụ nổi loạn của quân đội đã buộc Nero phải ẩn trốn vào năm 68. Đối mặt với việc bị xử tử bởi Viện nguyên lão, Nero đã tự sát.<ref name="ReferenceA">Suetonius, ''The Lives of Twelve Caesars'', Life of Nero [http://penelope.uchicago.edu/Thayer/E/Roman/Texts/Suetonius/12Caesars/Nero*.html#49 49].</ref>
 
==Năm của bốn hoàng đế (68-69)==
[[FileTập tin:Roman Empire 69AD.PNG|thumbnhỏ|rightphải|340px|Đế chế La Mã vào năm 69. Sau cái chết của Nero, bốn vị tướng hùng mạnh nhất trong Đế chế đã thay nhau chiếm giữ ngôi vị]]
{{Main|Năm của bốn hoàng đế}}
Cái chết của Nero dẫn đến một cuộc chiến giành ngôi. Đây là lần đầu tiên La Mã có một cuộc nội chiến kể từ sau cái chết của Mark Anthony vào năm 31 TCN. Bốn vị tướng hùng mạnh từ bốn vùng của Đế chế đã lần lượt đấu đá với nhau để lên ngôi. Từ tháng 6 năm 68 đến tháng 12 năm 69, kinh thành La Mã đã lần lượt chứng kiến sự thăng trầm của [[Galba]], [[Otho]] và [[Vitellius]], cho đến khi [[Vespasian]] khởi đầu [[vương triều Flavia]]. Giai đoạn này được xem như ví dụ tiêu biểu cho sự bất an chính trị trong lịch sử Đế chế La Mã, nó chứng tỏ rằng bất cứ vị tướng nào cũng có thể tranh giành ngai vàng, nếu đủ mạnh.<ref>Abbott, 298</ref>
===Vespasian (69-79)===
Vespasian tiếp tục quá trình làm suy yếu Viện nguyên lão. Họ buộc phải ghi nhận ngày lên ngôi của Vespasian là ngày 1 tháng 7 (ngày quân đội tôn ông lên làm hoàng đế), thay vì ngày 21 tháng 12 (ngày Viện nguyên lão chính thức xác nhận chuyện đó). Vào năm 73, Vespasian nắm luôn quyền tổ chức Viện nguyên lão. Ông tống cổ các thành viên phản đối mình và nâng tổng số thành viên của Viện nguyên lão lên con số 1000, với hầu hết các thành viên mới tới từ khắp các vùng ở Italy và Tây Âu, thay vì chỉ ở kinh thành La Mã.
[[ImageHình:Roman Colosseum With Moon.jpg|thumbnhỏ|Vespasian xây đại hý trường ở thành La Mã.]]
Về kinh tế và xã hội, Vespasian có công cứu Đế chế thoát khỏi gánh nặng tài chính gây ra do thói hoang phí của Nero và các cuộc nội chiến. Ông nâng thuế và đặt ra các loại thuế mới. Khi quốc khố đã dồi dào, ông cho xây dựng nhiều công trình công cộng, đáng chú ý nhất là việc khởi công [[Đấu trường La Mã|Đại hý trường]] nổi tiếng. Ông cũng cho xây dựng một nơi hội họp (tiếng Anh: forum) và trợ cấp nhiều tiền bạc cho các ngành nghệ thuật cũng như là những người viết lách.
 
 
===Trajan (98-117)===
[[FileTập tin:RomanEmpire 117.svg|thumbnhỏ|300px|Sự mở rộng của La Mã dưới thời Trajan.]]
Triều đại của Trajan được đánh dấu bằng những chiến công to lớn ngoài chiến trường. Sau khi lên ngôi, Trajan chuẩn bị kỹ lưỡng và tiến hành một chiến dịch quân sự nhắm vào Dacia, nơi đã đối đầu với La Mã từ lâu. Năm 101, Trajan tự mình vượt sông Danube và đánh bại vua Dacia là [[Decebalus]] ở Tapae (xem [[trận Tapae lần hai]]). Vị hoàng đế không tiếp tục chinh phục triệt để vì cần tái tổ chức lại quân đội, nhưng thay vào đó ông buộc người Dacia phải ký một hòa ước với những điều khoản hết sức nặng nề. Năm 105, Trajan một lần nữa tiến quân và sau một năm chinh chiến thì đã đánh chiếm được kinh đô của người Dacia là [[Sarmizegetusa Regia]]. Vua Decebalus tự sát để không rơi vào tay địch và từ đó Dacia trở thành một tỉnh của La Mã. Cuộc chinh phục Dacia được xem là một chiến tích lớn của Trajan. Ông hạ lệnh ăn mừng trong 123 ngày trên toàn đế chế và cho xây dựng [[cột trụ Trajan]] ở thành La Mã để tôn vinh chiến thắng.
 
===Antoninus Pius (138-161)===
Ông được xem là một đại minh quân trong lịch sử La Mã cổ, có lối sống giản dị.<ref>Ernest Renan, ''Marcus Aurelius'', trang 2</ref> Đế chế La Mã tiếp tục phát triển thịnh vượng và hòa bình. Thậm chí có một nhà sử học hiện đại còn cho là trong suốt thời kỳ trị vì của Antoninus Pius, ông chưa từng lại gần một quân đoàn nào trong bán kính 500 dặm.<ref>J. J. Wilkes, ''The Journal of Roman Studies'', Volume LXXV 1985, ISSN 0075-4358, p. 242.</ref> Có những cuộc đụng độ ở [[Mauretania]], [[Judaea]], và với người [[Brigantes]] ở Anh Quốc, nhưng không có lần nào là đáng kể.
[[ImageHình:Marcus Aurelius Glyptothek Munich.jpg|thumbnhỏ|lefttrái|[[Marcus Aurelius]]]]
 
===Marcus Aurelius (161-180)===
Các bộ tộc người German tiến hành nhiều cuộc cướp phá dọc biên giới phía Bắc của La Mã, đặc biệt là nhắm vào xứ Gaul và dọc sông Danube. Nguyên do của việc này có lẽ là do họ bị những bộ tộc hiếu chiến hơn tới từ phía Đông gây áp lực từ phía sau. [[Người Chatti]] tấn công tỉnh Thượng Germania vào năm 162 và bị đẩy lùi. Nguy hiểm hơn, năm 166, [[Marcomanni]] của [[người Bohemia]] (chư hầu của La Mã từ năm 19) vượt sông Danube cùng [[người Lombard]] và các bộ tộc German khác. Cùng lúc đó, [[người Sarmatia]] tấn công vào khu vực giữa sông Danube và [[sông Theiss]]. Hoàng đế [[Marcus Aurelius]] thân chinh xuất quân đánh các bộ tộc German trong phần lớn thời gian ở ngôi của mình, nhưng vì những vấn đề ở phía Đông nên quân đội La Mã gặp nhiều khó khăn. Ít nhất là họ đã thất bại hai trận lớn trước bộ tộc [[người Quadi|Quadi]] và Marcomanni, người sau đó đã vượt [[dãy núi Alps|dãy núi Alps]] để tàn phá Opitergium ([[Oderzo]]) và vây hãm [[Aquileia]], một thành phố lớn của La Mã ở Đông Bắc Ý. Sau một thời gian dài vất vả thì hoàng đế Marcus Aurelius cũng đẩy lùi được những kẻ xâm lăng, nhưng có rất nhiều người German đã trú lại các tỉnh biên giới như Dacia, [[Pannonia]], [[Đức]] và ngay cả trên đất Italy. Chuyện này không phải là mới, nhưng số lượng đông đảo của họ đã buộc chính quyền La Mã phải tạo ra hai tỉnh mới dọc bờ Tây sông Danube là [[Sarmatia]] và [[Marcomannia]] (ngày nay thuộc [[Bohemia]] và [[Hungary]]). Những chiến công của Marcus Aurelius được ghi lại trong [[cột Marcus Aurelius]].
 
Ở châu Á, một đế chế Parthia mới trỗi dậy tiếp tục thách thức La Mã. Marcus Aurelius đưa vị đồng hoàng đế với mình là [[Lucius Verus]] tới thân chinh thống lĩnh các quân đoàn ở đây và cuối cùng đã đánh bại họ (xem [[Chiến tranh La Mã-Parthia 161-166]]). Vào năm 175, Marcus Aurelius tiêu diệt cuộc nổi loạn của [[Avidius Cassius]] (ông này làm phản do tưởng nhầm là Marcus đã qua đời).
 
==Vương triều Severus (193-235)==
[[ImageHình:Caracalla.jpg|thumbnhỏ|Tượng Caracalla, có thể xem dưới dạng 3D. Click vào để biết thêm chi tiết.]]
Vương triều Severus (tiếng Anh: Severan Dynasty) gồm các hoàng đế Septimius Severus (193–211), [[Caracalla]] (211–217), [[Macrinus]] (217–218), [[Elagabalus]] (218–222), và [[Alexander Severus]] (222–235). Thời đại này mở đường cho những nhà thống trị có nguồn gốc Syria như Elagabalus và Alexander Severus. Sau khi lên ngôi, Septimius Severus chi những khoản tiền lớn cho quân đội để bảo đảm sự trung thành và thay thế các thành viên Viện nguyên lão bằng các viên chức đẳng cấp Kỵ Sĩ (tiếng Anh: equestrian) cho những vị trí quan trọng. Ông cũng hủy bỏ những phiên tòa xử án từ thời Cộng hòa. Nhờ vậy, Septimius Severus đã mở rộng quyền hạn của hoàng đế.
 
Một phần vấn đề này có gốc rễ từ việc Augustus không định ra những luật lệ cụ thể để xác định người kế vị. Từ thế kỷ 1 và 2, vấn đề kế vị cũng đã gây ra những cuộc nội chiến ngắn, nhưng tới thế kỷ 3 thì nội chiến xảy ra liên miên khi mà chẳng kẻ giành ngôi nào nhanh chóng trấn áp được đối thủ hoặc ở ngôi được lâu. Trong khoảng thời gian này có không dưới 25 vị hoàng đế đã cai trị La Mã, và trừ ra 2 người thì tất cả họ đều bị ám sát hoặc tử trận trên chiến trường. Các công dân cũng không còn dự phần nhiều vào việc quản lý ở địa phương như trước. Chuyện này buộc hoàng đế phải can dự vào và từ từ nâng cao vai trò trách nhiệm của chính phủ.
 
Thêm vào nữa, kiểu tập trung quân ở biên giới của quân đội La Mã không thể chống lại được những cuộc xâm lăng một khi kẻ địch đã lọt qua. Ở phía đông, đế chế Sassanid tấn công La Mã quyết liệt hơn nhiều so với đế chế trước nó là Parthia.<ref>Matyszak, The Enemies of Rome, trang 234</ref> Vào năm 253, hoàng đế Sassanid là [[Shapur I]] tiến quân sâu vào lãnh thổ La Mã, đánh bại quân La Mã trong [[trận Barbalissos]]<ref>Matyszak, The Enemies of Rome, trang 236</ref> và chinh phục [[Antioch]].<ref name="ReferenceB">Grant, The History of Rome, trang 283</ref> Tiếp đó, vào năm 260, trong [[trận Edessa]], lại một lần nữa quân La Mã bại trận trước Sassanid<ref>Matyszak, The Enemies of Rome, trang 237</ref> và hoàng đế La Mã lúc đó là [[Valerian]] bị bắt giữ.<ref>Grant, The History of Rome, trang 283<name="ReferenceB"/ref>
 
Cuộc khủng hoảng kết thúc nhờ vào Hoàng đế [[Diocletian]]. Bằng cả tài năng lẫn vận may, ông đã giải quyết được nhiều vấn đề cấp bách. Thế nhưng, vấn đề cốt lõi của La Mã vẫn còn đó và cuối cùng đã gây nên sự tận diệt của đế chế ở phía Tây.
 
==Diocletian và triều đình ''Tứ đầu chế'' (284-301)==
[[FileTập tin:Venice – The Tetrarchs 03.jpg|thumbnhỏ|upright|''Tứ đầu chế'', một tác phẩm miêu tả triều đình La Mã thời ''Tứ đầu chế'', được lấy từ một cung điện Byzantine vào năm 1204.]]
Vào tháng 7 năm 285, Hoàng đế Diocletian đánh bại địch thủ là [[Carinus]] và trở thành vị hoàng đế duy nhất của La Mã. Ông nhận thấy rằng Đế chế La Mã quá lớn và có quá nhiều áp lực từ bên trong lẫn các mối đe dọa từ bên ngoài, chỉ một vị hoàng đế thì khó lòng cai trị được. Do đó, ông chia Đế chế ra làm hai nửa Đông và Tây (với ranh giới ở vùng Đông Ý). Hai bên sẽ có hai vị hoàng đế ngang quyền nhau cùng mang Đế hiệu [[Augustus (danh hiệu)|Augustus]]. Sự phân chia này là tiền thân của [[Đế quốc Tây La Mã|Đế chế Tây La Mã]] và [[Đế chế Đông La Mã]].
 
 
Vào năm 307, Maximian trở lại với danh hiệu Augustus và cùng cai trị với con mình. Như vậy tổng cộng thì La Mã có tới 6 người cai trị (5 Augustus: Galerius, Severus, Constantine, Maxentius, Maximian và 1 Casear: Maximinus). Galerius và Severus tấn công hai cha con Maximian ở Italy, nhưng Severus bị bắt giết vào năm 307.<ref>Barnes, ''Constantine and Eusebius'', 30–31; Elliott, ''Christianity of Constantine'', 41–42; Lenski, "Reign of Constantine" (CC), 62–63; Odahl, 86–87; Potter, 348–49.</ref> Hai vị Augustus ở Italy sau đó kết liên minh với Constantine bằng cách gả con gái của Maximian cho ông.
[[FileTập tin:Byzantinischer Mosaizist um 1000 002.jpg|thumbnhỏ|rightphải|''Constantine the Great'', hình ghép mảnh ở [[Hagia Sophia]]. Trong hình có thể thấy được những liên hệ của ông với Thiên chúa giáo.]]
Cuộc nội chiến sau đó vẫn tiếp tục và chứng kiến Constantine lần lượt đánh bại các đối thủ khác. Năm 324, ông đánh bại đối thủ cuối cùng là người em rể [[Licinius]] để thống nhất Đế chế.<ref>MacMullen, ''Constantine''.</ref> Ngoài ra, trong triều đại của mình, Constantine cũng có những thắng lợi trước người [[người Frank|Frank]], [[người Alamanni|Alamanni]], [[người Visigoth|Visigoth]] và [[người Sarmatia|Sarmatia]], thậm chí là tổ chức tái định cư lại một phần Dacia (bị bỏ rơi từ thế kỷ 3).
 
 
Sau cái chết của Valens, Gratian đưa [[Theodosius I]] lên làm Augustus của Đông La Mã vào tháng 1 năm 379.
[[ImageHình:Theodosius I's empire.png|rightphải|thumbnhỏ|250px|Đế chế La Mã sau cái chết của Theodosius I. Các đường trắng là biên giới của các quốc gia ngày nay. {{legend|#B53637|Đế chế Tây La Mã}} {{legend|#8F36B5|Đế chế Đông La Mã}}]]
 
===Nội chiến ở Tây La Mã===
 
==Sự sụp đổ của Đế chế Tây La Mã (395-476)==
[[ImageHình:De Neuville - The Huns at the Battle of Chalons.jpg|lefttrái|260px|thumbnhỏ|Các chiến binh Hung ở trận những cánh đồng Catalaunian.]]‎
[[ImageHình:Sack of Rome by the Visigoths on 24 August 410 by JN Sylvestre 1890.jpg|210px|rightphải|thumbnhỏ|Tranh vẽ cuộc cướp phá cố đô La Mã vào năm 410.]]‎
Sau năm 395, các vị hoàng đế ở Tây La Mã hầu như chỉ còn là bù nhìn. Quyền hành thực sự rơi vào tay những người thống lĩnh quân đội như [[Stilicho]] (từ 395 tới 408), [[Constantius III|Constantius]] (từ 411 tới 421), [[Flavius Aetius|Aëtius]] (từ 433 tới 454) và [[Ricimer]] (từ 457 tới 472). Vốn ít tài nguyên hơn Đông La Mã, Tây La Mã cũng suy sụp nhanh chóng về mặt kinh tế, đi kèm với nó là sự cai trị thiếu hiệu quả ở các tỉnh vùng biên giới.
 
Năm 476, một viên tướng người German là [[Odoacer]] nổi dậy làm chính biến lật đổ hoàng đế cuối cùng của Tây La Mã là [[Romulus Augustus]]. Đế chế Tây La Mã diệt vong ở đây. Về danh nghĩa thì Odoacer là chư hầu của Đông La Mã nhưng thực tế thì chính ông mới là người trị vì Italy. Trên đất đai cũ của Tây La Mã, ba vương quốc mới dần được thành lập gồm vương quốc [[người Ostrogoth|Ostrogoth]], vương quốc [[người Lombard|Lombard]] và vương quốc [[người Frank|Frank]].
 
[[ImageHình:476eur.jpg|550px|centergiữa|thumbnhỏ|Bản đồ châu Âu vào năm 476.]]‎
 
==Đế chế Đông La Mã (476-1453)==
[[ImageHình:LocationByzantineEmpire 550.png|thumbnhỏ|250px|Đế chế Đông La Mã ở đỉnh cao vào năm 550.]]
{{main|Lịch sử Đế chế Đông La Mã}}
Sau khi Tây La Mã diệt vong vào thế kỷ thứ 5, [[Đế chế Đông La Mã]] (thường gọi là Đế chế Byzantine), vốn giàu có hơn, đã tồn tại và phục hồi được sức mạnh của mình. Vào giữa thế kỷ thứ 6, hoàng đế [[Justinian I]] đánh chiếm lại Italy và một phần [[Illyria]] từ tay người Ostrogoth, Bắc Phi từ tay người Vandal, và một phần [[Hispania]] từ tay người Visigoth.
5.681.853

lần sửa đổi