Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Đại thành tựu”

n
clean up
Không có tóm lược sửa đổi
n (clean up)
'''Đại thành tựu''' (zh. 大成就, sa. ''mahāsiddha''), hoặc là '''Đại thành tựu giả''', cũng dịch âm là '''Ma-ha-tất-đạt''' (zh. 摩訶悉達), là danh hiệu chỉ những vị tu khổ hạnh, đã đạt cốt tuỷ của giáo pháp [[Đát-đặc-la]] của [[Phật giáo]] ([[Vô thượng du-già]]) một cách siêu việt. Người ta nhắc đến nhiều nhất 84 vị Đại thành tựu của thế kỉ thứ 8 đến thế kỉ thứ 12 tại Ấn Độ, là những vị tu học khác hẳn truyền thống tu tập ở các Tinh xá (sa., pi. ''vihāra'') của [[Đại thừa]]. Đó là những vị nam nữ, thuộc tầng lớp xã hội khác nhau, là những người đã để lại cho Phật giáo Bắc Ấn Độ và Tây Tạng một ảnh hưởng quyết định.
 
Thành tựu giả (sa. ''siddha'') là các vị đã đạt thần thông, thần thông này được gọi là Thành tựu pháp (sa. ''siddhi'', hoặc Tất-địa). Người [[Xuất gia|xuất gia]] hay [[Cư sĩ|cư sĩ]] đều có thể đạt Tất-địa.
 
Trong thời [[Phật]] còn tại thế, người ta đã thừa nhận trong quá trình tu tập, hành giả có thể đạt thần thông nhất định, nhưng các thần thông đó đều vô ích, không đáng quan tâm. Chính Phật cũng không cho phép đệ tử mình thi triển thần thông, trừ khi cần phải thi triển vì mục đích giáo hoá. Thế nhưng, Mật tông, nhất là truyền thống [[Đát-đặc-la]] có khuynh hướng khuyến khích việc thi triển thần thông, xem nó như một trong những [[Phương tiện thiện xảo|phương tiện thiện xảo]] để giáo hoá. Vì thế phần lớn các vị Thành tựu hay xiển dương thần thông như bay trên không, đi dưới nước, xuyên qua tường hay kéo dài thọ mệnh. Các vị đạt một ít thần thông nhất định được gọi là Thành tựu, các vị đạt được nhiều thần thông được gọi là Đại thành tựu. Người ta kể ra khoảng 34 thần thông khác nhau. Các vị đạt Tất-địa không nhất thiết là đã đạt giải thoát. Theo sách vở truyền lại thì ít có vị nào được ghi là “nhập [[Niết-bàn]]”. Phần lớn được gọi là “đi vào cõi của [[Không hành nữ]]”, được hiểu là nơi không còn tái sinh, tiếp tục tu học để giải thoát hoàn toàn.
 
Truyện về 84 vị Đại thành tựu do Vô Uý Thí Cát Tường (sa. ''abhayadatta śrī''), một cao tăng Ấn Độ ghi lại trong thế kỉ 11,12 trong một tập dưới tựa ''Tiểu sử của 84 Đại thành tựu giả'' (sa. ''caturraśīti-siddha-pravṛtti'', bản dịch của Keith Dowman và H.-W. Schumann). Truyền thống Tây Tạng cũng có những tập nói về chư vị nhưng có khác đôi chút. Trong quyển sách này, sự tích các vị là dựa vào tập của Vô Uý Thí Cát Tường. Đa số 84 vị này đều sống trong khoảng từ thế kỉ thứ 8 đến 12 và truyền thừa cho nhau. Các vị thường có rất nhiều tên khác nhau, phần lớn dựa vào tính chất đắc đạo hay nghề nghiệp các vị đó. Các câu chuyện truyền lại với những thần thông khác nhau có thể được thêm bớt, nhưng người ta cho rằng tất cả các vị đó đều là những nhân vật lịch sử, đã sống thật trên trái đất này.
*''Fo Guang Ta-tz'u-tien'' 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-Guang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ Điển. Phật Quang Đại Từ Điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
*''Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren'', Bern 1986.
 
 
{{Viết tắt Phật học}}
986.568

lần sửa đổi