Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Nam Trung (Trung Quốc)”

n
clean up
n (Đã hủy sửa đổi của F5fa137 (Thảo luận) quay về phiên bản của Phương Huy)
n (clean up)
==Trong Tam Quốc diễn nghĩa==
Trong tác phẩm [[Tam Quốc diễn nghĩa]], vùng đất và con người ở Nam Trung được mô tả thông qua cách nhìn của một người ở [[Trung Nguyên]] nên có cách nhìn khác phiến diện, là một xứ sở rừng rú, man di, chưa được giáo hóa, có những tập tục kỳ lạ. Tam Quốc diễn nghĩa đã dành 05 hồi, từ hồi 87 đến hồi 91 để mô tả chi tiết và cụ thể địa lý và con người Nam Trung thông qua cuộc chinh phạt của Gia Cát Lượng.
[[Thể loại:Địa lý Trung Quốc]]
 
Theo các nhân vật nhà Thục Hán thì Nam Trung là một xứ ma thiêng nước độc, cây cối không mọc được. [[Vương Liên]] thì cho rằng: Đất nam Man xa cách, nhân dân không biết vương hoá là gì, thu phục thật khó. [[Mã Tốc]] cũng nêu lên rằng: Nam Man cậy có đất xa, núi hiểm, không phục đã lâu, tuy hôm nay phá xong, ngày mai tất lại làm phản. Quân rợ không tuân vương hóa, người rợ thường giết lẫn nhau, mang lòng ngờ vực, không tin nhau. Lúc tháng sáu, trời nắng chang chang, nóng hơn lửa đốt. Cái nóng phương Nam được vịnh thơ như sau: Núi đầm đều khô cháy, Lửa nóng tựa vầng dương, Biết đâu ngoài trời đất, Nóng bức thực khôn lường. Một số địa danh được nhắc đến trong vùng Nam Trung là:
 
===Các động và núi gồm===
* Dưới quyền ảnh hưởng của Mạnh Hoạch gồm tám vùng Phiên, chín mươi ba điện. Trong đó có ba động thuộc quyền của Mạnh Hoạch (gồm có 3 động chủ) là [[Kim Hoàn Tam Kết]], [[An Hội Nam]] và [[Đổng Trà Na]] trong đó có ''động Ngũ Khê'' nơi đóng quân của Kim Hoàn Tam Kết.
 
* ''Động Đái Lai'' của Đái Lai động chúa, Trưởng bộ Bát Phiên, em của Chúc Dong.
* ''Nước Ô Qua'': Từ động Ngân Hàng ra phía đông nam bảy trăm dặm, có nước Ô Qua do Ngột Đột Cốt làm vua.
 
* ''Động Thứu Long'':
: Từ vùng thuộc quyền của Mạnh Hoạch đi về mé tây nam, có một động gọi là động Thứu Long, Chúa động tên là [[Đóa Tư đại vương]]. Ở động này chỉ có hai con đường vào được. Một con đường về mé đông bắc địa thế phẳng phiu, đất lành nước ngọt, người ngựa đi lại dễ dàng. Một con đường ở mé tây bắc, núi non hiểm ác, đường sá hẹp hòi, lại lắm rắn dữ, rết độc, mỗi ngày về buổi chiều, chướng khí bốc lên, đến mãi trưa hôm sau mới tan, chỉ trong giờ thân, giờ dậu mới có thể đi lại được, bốn phía núi cao chót vót, lặng ngắt như tờ, không có tiếng chim chóc gì cả. Nước không uống được, ngựa người khó đi. Có bốn ngọn suối độc:
** Á Toàn, nước tuy ngọt, nhưng uống phải thì không nói được, chỉ mười ngày là chết (Quân Thục do Vương Bình đến một ngọn suối, đang khát tranh nhau xuống múc nước uống về đến trại thì thấy quân sĩ không ai nói được, chỉ lấy tay trỏ vào mồm ra hiệu vì uống phải suối câm, chỉ vài ngày là chết).
** Diệt Toàn, nước nóng như đun sôi, ai động phải thì da thịt ruỗng ra, thấu đến xương mà chết.
** Hắc Toàn, nước hơi trong, ai dúng phải thì chân tay đen cả ra mà chết.
** Nhu Toàn, nước lạnh như băng, ai uống phải thì cổ họng lạnh ngắt, mình mẩy mềm nhũn cả ra mà chết.
 
: Bốn suối này toàn là [[khí]] [[độc]] tụ lại, không thuốc gì chữa được. Hơn nữa chướng khí bốc lên, chỉ trong vài giờ mùi, giờ thân, giờ dậu là qua lại được, còn đi vào giờ khác đều nhiễm phải chướng khí mà chết. Ở xứ này đến con chim, con sâu cũng không có. Nguyên nhân là do xứ này lắm giống rắn dữ, rết độc, hoa liễu bay vào trong khe, nước không sao uống được, phải đào giếng mới có nước uống được.
 
: Tuy nhiên từ suối câm đi thẳng mé tây vài dặm, có một hang núi, vào trong hang đi hai mươi dặm nữa, đến một cái khe, gọi là khe Vạn An có một cái suối, gọi là ''suối An Lạc''. Ai trúng phải độc, uống nước suối ấy khỏi, người nào sinh ghẻ, nhiễm phải chướng khí, tắm nước suối ấy tự nhiên không việc gì, nơi đó có một thứ cỏ gọi là giới diệp vân hương, ngậm lá cỏ ấy trong mồm, thì chướng khí không nhiễm vào được.
 
* ''Động Ngân Dã'' với chúa động là [[Dương Phong]]
 
===Các con sông ===
* ''Sông Lư Thủy'':
Là sông hiểm trở nơi Mạnh Hoạch đóng quân, sông này không có một chiếc thuyền bè nào, mà nước thì chảy xiết, cách sông Lưu Thủy một trăm năm mươi dặm, phía hạ lưu Sa Khẩu cửa sông Lư Thủy thì nước chảy từ từ nước nông. Tuy nhiên khi trời nắng chang chang, khí độc tụ cả trên bề mặt sông, ban ngày lại càng nhiều hơn, người nào lội xuống nước hoặc uống phải, thì sẽ trúng độc mà chết (Mã Đại từng cho cho quân sĩ cởi trần, lội ào sang, lội đến nửa chừng, quân sĩ đều ngã gục cả xuống sông người nào cũng hộc máu mồm, máu mũi mà chết).
 
Muốn lội, phải chờ lúc đêm thanh, khí độc không bốc lên, mà phải ăn no rồi lội thì mới không bị trúng độc. Theo Mạnh Hoạch thì ở con sông này, xưa nay vẫn có ác thần gây tai quái, kẻ đi lại phải cúng tế mới yên, hễ ác thần ra oai, mỗi năm phải dùng bốn mươi chín đầu lâu người và trâu đen, dê trắng mà tế thì tự nhiên sông lặng gió êm, lại được mùa luôn mấy vụ nữa
* ''Sông Cam'' và ''sông Tây Thành'', cùng với sông Lư (Lưu Thủy) hợp thành vùng Tam Giang.
* ''Sông Tây Nhĩ Hà'': Ngoài ra ở vùng này có một con sông gọi là Tây Nhĩ Hà, nước chảy tuy không xiết mấy nỗi, nhưng chẳng thấy một chiếc thuyền bè nào đi lại. Khổng Minh từng sai dẫn gỗ đóng bè thả xuống sông, nhưng vừa thả xuống, bè đã chìm, trên thượng lưu sông này, có một trái núi, tre mọc như rừng, có lắm cây to.
 
* ''Sông Đào Hoa'': là con sông mà hai bên bờ toàn là cây đào, lâu ngày lá rụng xuống nước, người nơi khác uống phải thì chết ngay do nước lá [[đào]] rất độc, chỉ có người Ô Qua uống vào lại khỏe thêm ra
 
{{Các chủ đề|Trung Quốc|Địa lý|Lịch sử}}
 
[[Thể loại:Địa lý Trung Quốc]]
 
[[id:Nanzhong]]
[[ca:Nanzhong]]
[[en:Nanzhong]]
[[id:Nanzhong]]
[[it:Nanzhong]]
[[no:Nanzhong]]
986.568

lần sửa đổi