Khác biệt giữa các bản “Horemheb”

n
cosmetic change, replaced: |thumb| → |nhỏ|, |left| → |trái|, [[File: → [[Tập tin: using AWB
n (r2.7.3) (Bot: Thêm tl:Horemheb)
n (cosmetic change, replaced: |thumb| → |nhỏ|, |left| → |trái|, [[File: → [[Tập tin: using AWB)
'''Horemheb''' (đôi khi còn gọi là ''Horemhab'' hoặc ''Haremhab'') là vị [[pharaon]] cuối cùng của [[Vương triều thứ 18 của Ai Cập|Vương triều thứ 18]] từ khoảng năm 1319 cho đến năm 1292 trước [[Công nguyên]],<ref>Erik Hornung, Rolf Krauss & David Warburton (editors), Ancient Egyptian Chronology (Handbook of Oriental Studies), Brill: 2006, p.493 Chronology table</ref> hoặc là từ năm 1306 cho đến cuối năm 1292 trước Công nguyên (nếu như ông trị vì 14 năm) mặc dù ông không có họ hàng với các vị tiên vương và được tin là có nguồn gốc bình dân.
 
Trước khi trở thành pharaon, Horemheb là Tổng chỉ huy quân đội dưới các triều vua [[Tutankhamun]] và [[Ay]]. Sau khi lên ngôi, ông đã cải tổ Nhà nước và chủ trương xóa bỏ mọi di sản của [[thời kỳ Armana]] trước đó. Sử cũ coi ông là vị vua đã chấm dứt thời kỳ hỗn loạn của các vua thành Armana và mở ra một [[đế quốc]] mới cũng như thời kỳ Ramesses, đồng thời tiếp bước [[Ahmose I]] đưa Ai Cập quay trở về với các giá trị truyền thống của Vương triều thứ 18<ref name="charlotte">Charlotte Booth, ''Horemheb: The Forgotten Pharaoh''.</ref>. Song, bất chấp tầm quan trọng của ông trong [[lịch sử]], Horemheb đã trở thành một ''pharaon bị quên lãng'', theo như cuốn sách ''Horemheb: The Forgotten Pharaoh'' ([[2009]]) của Charlotte Booth. <ref name="keyheri"/>
 
Horemheb đã phá hủy các tượng đài của Akhenaten, và dùng tàn tích của chúng cho việc thực thi các công trình xây dựng của chính ông, và cướp đoạt các công trình của Tutankhamun và Ay.<ref name="charlotte"/> Có nhẽ Horemheb không có con và ông đã bổ nhiệm quan [[Tể tướng]] Paramesse làm người kế vị ông - đó là vua [[Ramesses I]] sau này. Quyết sách này đã dẫn tới sự lên ngôi của [[Ramesses II]] - một trong những ông vua nổi tiếng nhất trong [[lịch sử Ai Cập]]. Có nhẽ từ nhỏ Ramesses II - cháu nội của Ramesses I, đã được yết kiến và kính nể Horemheb, do đó sau khi lên làm vua Ramesses II đã tổ chức nhiều hoạt động tôn thờ Horemheb. Dù các sử liệu thời hiện đại luôn mở đầu [[Vương triều thứ 19]] với Ramesses I, tác gỉa Booth coi Horemheb thực sự là vị vua sáng lập Vương triều này. <ref name="charlotte"/><ref name="keyheri">[http://heritage-key.com/publication/horemheb-forgotten-pharaoh Horemheb: The Forgotten Pharaoh]</ref>
 
==Tuổi trẻ==
Horemheb được tin là xuất thân từ vùng [[Herakleopolis Magna]] hay Hnes cổ xưa (ngày nay là Ihnasya el-Medina) ở bờ tây sông Nin gần lối vào thành phố [[Al Fayyum|Fayum]] do bản thông cáo về sự đăng cơ của ông chính thức ghi công Thần Horus vùng Hnes đã đưa ông lên ngôi báu.<ref>Alan Gardiner, "The Coronation of King Haremhab," JEA 39 (1953), pp.14, 16 & 21</ref>
[[FileTập tin:Horemheb Ashershow1.JPG|thumbnhỏ|lefttrái|130px|Một bức tượng Horemheb khi còn làm thư lại.]]
Người ta không rõ danh tính cha mẹ ông nhưng ông thường được nghĩa là có gốc gác bình dân. Theo nhà Ai Cập học người [[Pháp]] [[Nicolas Grimal]] (tại [[Sorbonne]]), Horemheb không phải là Paatenemheb - vị Tổng tư lệnh quân đội thời Akhenaten.<ref>[http://www.virtual-egyptian-museum.org/Collection/FullVisit/Collection.FullVisit-JFR.html?../Content/STO.XL.00896.html&0 Virtual Egyptian Museum - The Full Collection<!-- Bot generated title -->]</ref> Thưở bé, như bao đứa trẻ, hẳn là Horemheb đã được nghe kể về chiến tích của các vị vua vĩ đại trước kia, và điều đó đã ảnh hưởng tới các chính sách của ông khi làm nhà ngoại giao và vua.<ref name="charlotte"/> Grimal nêu rõ rằng sự nghiệp [[chính trị]] của Horemheb mở đầu dưới thời Tutankhamun khi ông "được vẽ bên cạnh nhà vua trong nhà nguyện tại mộ ông ở Memphis."<ref>Nicolas Grimal, A History of Ancient Egypt, Blackwell:1992, p.242</ref>
 
Trong giai đoạn đầu tiên được biết đến của cuộc đời ông, Horemheb giữ chức "phát ngôn viên Hoàng gia về đối ngoại [của Ai Cập]" và đích thân dẫn đầu một phái bộ [[ngoại giao]] tới thăm các quan Tổng trấn xứ [[Nubia]].<ref name="Grimalop">Grimal, op. cit., p.242</ref> Để đáp lại chuyến thăm viếng ấy, "Vương hầu xứ Miam (Aniba)" đã đến tiếp kiến Triều đình Tutankhamun, "một sự kiện [được] đề cập trong ngôi mộ của [[Phó vương]] Huy."<ref name="Grimalop" /> Horemheb nổi lên "như diều gặp gió" dưới triều vua [[Tutankhamun]], trở thành Tổng tư lệnh Quân đội, và quân sư của Pharaon. Các tước hiệu đặc thù của Horemheb được vẽ phác tại ngôi mộ của ông ở [[Saqqara]] vốn đã được xây dựng khi ông chỉ còn là quan viên. <ref>John A. Wilson "''Texts from the Tomb of General Hor-em-heb''" in Ancient Near Eastern Texts (ANET) relating to the Old Testament, Princeton Univ. Press, 2nd edition, 1955. pp.250-251</ref>
 
Lúc Tutankhamun mất khi còn là một thiếu niên, Horemheb đã chính thức được vị ấu chúa phong làm ''rpat'' hay ''iry-pat'' (hiểu là "Người kế thừa hoặc là [[Thái tử]]") và ''idnw'' ("Đại diện của Đức Vua" trên toàn quốc) ; những tước vị này được tìm thấy trong ngôi mộ kiểu Memphis (khi ấy còn là nấm mồ riêng tư của Horemheb) tại Saqqara có niên đại từ thời Tutankhamun. <ref>THE NEW KINGDOM NECROPOLIS OF MEMPHIS: THE NEW KINGDOM NECROPOLIS OF MEMPHIS. Historical and Iconographical Studies by JACOBUS VAN DIJK, University of Groningen dissertation. Groningen 1993. "Chapter One: Horemheb, Prince Regent of Tutankh'amun," pp.17-18 [http://www.jacobusvandijk.nl/docs/Horemheb_chapter.pdf (online: pp.9-10)]</ref>
 
Tước vị ''iry-pat'' (Hoàng tử kế vị) rất hay được dùng trong ngôi mộ của Horemheb ở Saqqara nhưng không đi kèm với một từ nào khác. Khi tước vị này sử dụng riêng, nhà Ai Cập học [[Alan H. Gardiner|Alan Gardiner]] nhận thấy rằng ''iry-pat'' chứa đựng những đặc thù của việc thừa tự hợp pháp mà có thể đồng nhất với việc lựa chọn "Thái tử."<ref>Alan Gardiner, The Coronation of King Haremhab, Journal of Egyptian Archaeology, vol.39 (1953), pp.13-31</ref> Điều này có nghĩa là Tutankhamun đã chính thức công nhận Horemheb là người kế ngôi chứ không phải là Ay - sau là vua kế tục của Tutankhamun.
5.681.853

lần sửa đổi