Khác biệt giữa các bản “Flavius Aetius”

n
clean up, replaced: |thumb| → |nhỏ| (2), [[File: → [[Tập tin:, [[Image: → [[Hình: using AWB
n (r2.7.3) (Bot: Sửa ka:აეციუსი)
n (clean up, replaced: |thumb| → |nhỏ| (2), [[File: → [[Tập tin:, [[Image: → [[Hình: using AWB)
'''Flavius Aetius''', hoặc đơn giản là '''Aëtius''' (khoảng [[396]]-[[454]]), ''Quận công kiêm quý tộc'' ("[[dux]] et [[patrikios|patricius]]"), là danh tướng [[La Mã]] vào thời kỳ cuối của [[Đế chế Tây La Mã]]. Do thưở nhỏ ông là con tin dưới trướng vua [[Alaric I]] [[người Goth]] và vua [[Rugalia]] người Hung, ông được học hỏi nhiều về binh cách. Đầu tiên, ông là tướng dưới quyền của ông vua cướp ngôi [[Joannes]], sau đó ông theo về [[Hoàng đế]] [[Valentinianus III]].<ref name="Ermatinger7576">James William Ermatinger, ''The decline and fall of the Roman Empire'', các trang 75-76.</ref> Ông là một chỉ huy [[quân sự]] tài năng và là một trong những người có thế lực nhất ảnh hưởng đến Đế chế trong suốt hai thập kỷ ([[433]]-[[454]]). Trong thời gian đó ông chẳng khác gì một vị [[vua]] không ngai của Đế quốc Tây La Mã. Điều đó không những nhờ tài điều binh khiển tướng kiệt xuất của ông mà còn nhờ tài [[ngoại giao]] của ông nữa.<ref>Stanley Sandler, ''Ground warfare: an international encyclopedia'', Tập 1, trang 8</ref> Với tư cách là người cầm đầu ba quân, ông đối phó với những cuộc tấn công của các [[Người Rợ|rợ]] vào Đế quốc khi đó. Nổi bật hơn cả là sự kiện ông tập hợp và chỉ huy một đội quân bao gồm các chiến binh La Mã và rợ đánh tan tác quân tinh nhuệ Hung của [[Attila]] trong [[Trận Chalons]] vào năm [[451]], kết thúc cuộc xâm lược nổi tiếng của [[người Hung]] vào Đế chế Tây La Mã.
 
Cùng với [[thống đốc]] [[Bonifacius]] và [[Stilicho]], Aetius thường được các sử gia đời sau gọi là "người La Mã cuối cùng" với ngụ ý rằng, sau ông, La Mã không thể sản sinh được một người nào khác xứng đáng xếp cùng với các bậc anh hùng thuở xưa. Nhà sử học [[Anh]] [[Edward Gibbon]] thường nhắc đến ông là "''nhân vật được tuyên dương ở khắp nơi bởi nỗi khiếp sợ của bọn người man rợ và là người ủng hộ nền Cộng hòa''" , nhờ vào chiến thắng trứ danh của ông tại [[Chalons]]. Có lẽ, chiến công hiển hách này của ông đã cứu vãn cả nền văn minh phương Tây khỏi mối đe dọa đáng sợ của Đế quốc Hung.<ref name="Spencer8587"/> Thế nhưng, trước tiếng tăm lẫy lừng của ông, Hoàng đế Valentinianus III đố kỵ ông và [[ám sát]] vị đại tướng kiệt xuất. Ít lâu sau đó, các bộ tướng cũ của ông ám sát nhà vua và thù của ông đã được trả. <ref name="Ermatinger7576"/>
 
==Tiểu sử==
===Gia đình===
Flavius Aetius sinh tại [[Durostorum]] ở vùng [[Hạ Moesia]] (nay là [[Silistra]], [[Bungari]]) vào năm 396. Cha ông là [[Flavius Gaudentius]], một người lính [[La Mã gốc Scythia]], <ref name="Gibbon"/><ref>[http://www.newadvent.org/cathen/01177b.htm Aëtius]. ''[[Catholic Encyclopedia]]''; ''Dictionary of Greek and Roman Biography and Mythology'', vol. 1, page 51; Tirnanog (1997).</ref> mẹ ông không rõ họ tên, xuất thân từ một gia đình quý tộc giàu có gốc [[Ý]]. <ref>Jordanes, ''Getica'', 176; Merobaudes, ''Carmina'', iv, 42-43, and ''Panegyrici'', ii, 110-115, 119-120; Gregory of Tours, ii.8; Zosimus, v.36.1; ''Chronica gallica 452'', 100. Cited in Jones, p. 21.</ref> Vào năm [[425]], Aetius kết hôn với một người con gái không rõ họ tên của Carpilio, <ref>Carpilio had been a ''comes domesticorum'', commander of the imperial guard (Gregory of Tours, ii.8).</ref> hạ sinh một người con trai cũng tên là [[Carpilio]]. <ref>Carpilio went to [[Attila]] for an embassy (Cassiodorus, ''Variae'', i.4.11) and remained at their court as an hostage for some time (Priscus, fr. 8).</ref> Về sau ông còn kết hôn với [[Pelagia]], góa phụ của Bonifacius, có thêm một người con trai nữa là [[Gaudentius]]. Ngoài ra ông còn có một cô con gái nữa không rõ họ tên, về sau là vợ của [[Thraustila]], người đã trả thù cho cái chết của Aetius bằng cách lập mưu ám sát Hoàng đế [[Valentinianus III]]. <ref>Gregory of Tours, ii.8; Priscus, fr. 8; Cassiodorus, ''Variae'', i.4.11; John of Antioch, fr. 201.3 and 204; Marcellinus comes, s.a. 432; Sidonius Apollinaris, ''Carmina'', v.205; Hydatius, 167; Merobaudes, ''Carmina'', iv (poem composed for the first birthday of Gaudentius); ''Additamenta ad chron. Prosperi Hauniensis'', s.a. 455 (only source to cite Thraustila as son-in-law of Aëtius). Cited in Jones, p. 21.</ref>
 
===Sự nghiệp ban đầu===
[[FileTập tin:Flavius Felix 00.JPG|thumbnhỏ|Tấm bia khắc tranh bộ đôi về [[quan chấp chính]] [[Flavius Felice]] vào năm [[428]], một trong những đối thủ của Aetius, sau bị Aetius xử tử vào năm [[430]].]]
 
Thửa thiếu niên, ông là đầy tớ hầu hạ trong cung, về sau ghi danh vào phục vụ trong một đơn vị quân đội là ''tribuni praetoriani partis militaris''.<ref>Gregory of Tours, ii.8; Jones, p. 21.</ref> Từ năm [[405]] cho đến năm [[408]], ông bị bắt làm con tin tại triều đình của [[Alaric I]], vua người [[Goth]]. Vào năm 408, Alaric đề nghị phóng thích ông, nhưng Aetius từ chối, rồi ông được chuyển tới làm con tin tại triều đình của [[Rugila]], vua [[người Hung]].<ref>Gregory of Tours, ii.8; Merobaudes, ''Carmina'', iv, 42-46, and ''Panegyrici'', ii.1-4 and 127-143; Zosimus, v.36.1</ref> Gibbon và một số nhà sử học khác cho rằng Aetius là kết quả của sự giáo dục giữa các dân tộc man khai mạnh mẽ và hiếu chiến như người Hung đã tôi luyện cho ông một sức mạnh hùng dũng và tinh thần thượng võ mà người La Mã đang dần mất đi vào giai đoạn đó.<ref>Edward Gibbon, ''The Decline and Fall of the Roman Empire, Volume I'', Chap. XXXV (Chicago: Encyclopædia Britannica, Inc., 1952), p. 559.</ref> Thật vậy, dưới trướng của cả Alaric và Rugila, ông đã được học hỏi về việc dụng binh, nhất là về nghệ thuật lãnh đạo [[Kỵ binh]]. <ref name="Ermatinger7576"/>
 
Năm [[423]], [[Hoàng đế Tây La Mã]] là [[Honorius (Hoàng đế)|Honorius]] qua đời. Người có uy quyền lớn nhất là [[Castinus]], đã chọn [[Joannes]], một viên Sĩ quan cấp cao làm người kế vị, dù cho Joannes không thuộc về dòng dõi của [[Vương triều Theodosius]] và ông cũng không nhận được sự công nhận của Triều đình phương Đông. [[Hoàng đế Đông La Mã]] là [[Theodosius II]], cùng đại tướng [[Aspar]] thống lĩnh quân đội tiến hành chinh phạt Triều đình Joannes ở phương Tây, đặt người em họ của ông là Valentinianus III (cháu Honorius) lên ngôi Hoàng đế Tây La Mã. Aetius được Hoàng đế Joannes bổ nhiệm làm ''[[cura palatii]]'' và được phái đến nhờ sự giúp đỡ của người Hung, tuy nhiên Joannes cùng các Thượng quan trong Triều đình của ông này bị quân đội của Valentinianus III bắt sống và giết chết vào tháng 6 hoặc là tháng 7 năm 425. Một thời gian ngắn sau, Flavius Aetius trở lại cùng với đội quân người Hung và phát hiện ra rằng quyền bính của Đế chế phương Tây đều nằm trong tay vua Valentinianus III và mẹ ông này là [[Galla Placidia]]. Sau khi chiến đấu với đội quân của Aspar do Galla Placidia phái đến nhằm trừ khử ông, nhận thấy đang rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan, Aetius quyết định tiến hành thỏa hiệp với Thaí hậu Galla Placidia rằng ông sẽ rút quân người Hung về và phải phong cho ông làm ''comes et magister militum per Gallias'' (Tổng tư lệnh quân đội xứ Gaul). <ref>Cassiodorus, ''Chronica'', s.a. 425; Gregory of Tours, ii.8; Philostorgius, xii.4; Prosperus of Tirus, s.a. 425; ''Chronica gallica 452'', 100; Jordanes, ''Romana'', 328; Jones, p. 22.</ref>
Vào năm [[426]] Flavius Aetius đánh tan tác quân Tây Goth và buộc họ phải từ bỏ cuộc bao vây thành [[Arelate]]. Vào năm 428, ông tỏ ra thành công trong việc chiến đấu chống lại người [[Frank]] và tái chiếm lại hầu hết các tỉnh nằm dọc sông [[Rhine]]. <ref>Philostorgius, xii.4; Prosperus of Tirus, s.a. 425 and 428; ''Chronica gallica 452'', 102 (s.a. 427); Cassiodorus, ''Chronica'', s.a. 428. Cited in Jones, p. 22.</ref> Tiếp đó vào năm 429, Aetius được phong làm Tổng tư lệnh quân đội ("[[magister militum]]"). Cũng trong năm đó, ông đập tan nát người [[Juthungi]] tại [[Raetia]] và tiêu diệt một nhóm người [[Visigoth|Tây Goth]] ở gần [[Arelate]], bắt sống được thủ lĩnh của họ là [[Anaolsus]]. Vào năm [[431]], ông đánh tan tác người [[Nori]] tại [[Noricum]], quay trở lại xứ [[Gaul]], ông nghênh đón [[Hydatius]], Giám mục xứ [[Aquae Flaviae]], người hay phàn nàn về cuộc tấn công của người [[Suebi]].
 
Vào tháng 5 năm [[430]], Aetius buộc tội quan chấp chính [[Flavius Felix]] vì có âm mưu chống lại ông và xử tử cả nhà Felix để trừ hậu hoạn. Vào năm [[432]], Aetius một lần nữa đánh bại một cuộc tấn công của người [[Frank]], ký kết hòa ước với họ và gửi trả Hydatius đến chỗ người Suebi tại [[Iberia]]. <ref>Prosperus of Tirus, s.a. 429 e 430; John of Antioch, fr. 201; Hydatius, 92, 93 and 94 (s.a. 430), 95 and 96 (s.a. 431), 98 (s.a. 432); ''Chronica gallica 452'', 106 (s.a. 430); Jordanes, ''Getica'', 176; Sidonius Apollinaris, ''Carmina'', vii.233. Cited in Jones, pp. 22-23.</ref>
 
===Tranh giành quyền lực===
Kể từ năm 425, Aetius là một trog hai tướng lĩnh dưới quyền [[Flavius Constantius Felix]], người thứ hai là Bonifacius, [[Thống đốc Châu Phi]], sự tranh giành quyền lực giữa hai viên tướng bắt đầu gia tăng vào cùng năm đó. Aetius âm mưu chống lại Bá tước (''[[comes]]'') Châu Phi, khiến cho Bonifacius bị thất sủng với Galla Placidia vào năm [[427]]. Năm [[429]], Bonifacius cuối cùng phải trở về Ý để ủng hộ Placidia, trước khi một cuộc nổi loạn bùng nổ tại Châu Phi và việc kêu gọi sự trợ giúp từ người [[Vandal]]. Những nỗ lực tối đa của Aetius cũng không thể ngăn cản được người Vandal tiến vào lập nước riêng của họ ở Bắc Phi. Vua [[Gaiseric]] của Vandal chiếm lĩnh được [[Carthage]], thành phố thứ hai của đế quốc phía Tây vào năm [[439]] và xây dựng một hạm đội hải tặc hoàng hành khắp nơi ở vùng biển [[Địa Trung Hải]]. <ref>Procopius of Caesarea, ''Bellum Vandalicum'', i.3.14-22, 28-29; John of Antioch, fr. 196; Theophanes, AM 5931; Hydatius, 99; Prosperus, s.a. 427. Cited in Jones, p. 23.</ref>
 
Sau cái chết của Felix vào tháng 5 năm 430, bắt đầu bùng nổ cuộc đấu tranh quyền lực giữa hai nhân vật chính còn lại, Aetius và Bonifacius. Vào năm [[432]], Aetius giữ chức [[quan chấp chính tối cao]] và Bonifacius được Thái hậu Galla Placidia triệu về Ý bổ nhiệm chức quý tộc (''[[patrician]]''), Sau cùng Aetius quyết định hành quân chiến đấu chống lại Bonifacius trong [[Trận Rimini]], Bonifacius thắng trận nhưng vì vết thương quá nặng nên ông này qua đời chỉ vài tháng sau. Aetius chỉ huy quân đội cùng với đồng minh là người Hung, tiến tới thành [[Roma|La Mã]], vượt qua [[Dalmatia]] và [[Pannonia]], được sự trợ giúp và ủng hộ của người Hung, Aetius sớm khôi phục lại quyền lực về tay ông, đồng thời tiếp nhận danh hiệu ''[[magister utriusque militiae]]'' từ triều đình phương Tây, sau đó ông cho đày người con rể của Bonifacius, [[Sebastianus]], người kế tục Bonifacius giữ chức ''magister militum praesentalis'', từ Ý đến kinh thành [[Constantinopolis]], chiếm đoạt hết tài sản và kết hôn với người vợ của Bonifacius là Pelagia. <ref>CIL, v, 7530; Prosperus, s.a. 432; ''Chronica Gallica a. 452'', 109 and 111 (s.a. 432), 112 (s.a. 433), 115 (s.a. 434); ''Chronica Gallica a. 511'', 587; ''Additamenta ad chron. Prosperi Hauniensis'', s.a. 432; Hydatius, 99; Marcellinus comes, s.a. 432; John of Antioch, fr. 201.3. Cited in Jones, pp. 23-24.</ref>
 
===Chiến dịch chống lại người Burgundi, Bagaudae, và Tây Goth===
Từ năm [[433]] đến [[450]], Aetius là nhân vật chi phối toàn bộ quyền bính của Đế chế Tây La Mã, ngày [[5 tháng 9]] năm [[435]] ông được ban cho tước hiệu quý tộc (patrician) đóng vai trò là ''người bảo hộ'' Galla Placidia và là quan Nhiếp chính của Hoàng đế Valentinianus III. Đồng thời ông tiếp tục hướng sự chú ý đến xứ Gaul. Vào năm [[436]], Aetius đánh bại quân đội của [[Gunther]], vua xứ [[Burgundi]] và buộc phải chấp nhận ký kết hiệp ước hòa bình với Tây La Mã, cùng năm đó, Aetius cùng với tướng [[Litorius]] dưới quyền đem quân trấn áp một cuộc nổi loạn của [[Bacaudae]] tại [[Armorica]]. Trong hai năm tiếp theo, đại tướng Aetius tiến hành các chiến dịch quân sự chống lại người Suebi và Tây Goth. Vào năm [[438]], Aetius chỉ huy quân La Mã đánh bại người Tây Goth tại [[Trận Mons Colubrarius]], đến năm 439, thì người Tây Goth dẫn quân đánh bại và giết chết viên tướng dưới quyền Aetius là Lictorius. Khi trở lại Ý, ông được [[Viện nguyên lão]] và dân chúng thành La Mã tán dương, ca ngợi, thậm chí Hoàng đế Valentinianus III còn cho dựng tượng ông để hưởng ứng, sự kiện này được ghi lại trong những bài văn tán tụng của [[Merobaudes]]. <ref>''Annales Ravennates'', s.a. 435; John of Antioch, fr. 201.3; Prosper of Aquitaine, s.a. 435, s.a. 438, s.a. 439; Cassiodorus, ''Chronica'', s.a. 435; ''Chronica Gallica a. 452'', 117 (s.a. 435), 118 (s.a. 436), 119 (s.a. 437), 123 (s.a. 439); Hydatius, 108 (s.a. 436), 110 (s.a. 437), 112 (s.a. 438), 117 (s.a. 439); Sidonius Apollinaris, vii.234-235 and 297-309; Merobaudes, ''Panegyrici'', i fr. iib 11ff, i fr. iia 22-23, and ii.5-7; Jordanes, ''Getica'', 176; ; [[Barnes, Timothy]], "Patricii under Valentinian III", ''Phoenix'', 29, 1975, pp. 166-168; Jones, pp. 24-26.</ref>
 
Vào năm [[443]], Aetius cho phép những người Burgundi còn lại được định cư ở [[Savoy]], phía nam [[Hồ Geneva]]. Nhưng mối quan tâm cấp bách nhất của ông chính là những vấn đế tại Gaul và Iberia, chủ yếu là với Bagaudae. Ngoài ra ông còn cho phép người [[Alan]] tới định cư ở khoảng giữa [[Valence]] và [[Orléans]] chứa đựng những bất ổn xung quanh bán đảo [[Brittany]] ngày nay.
 
Việc người Alan định cư tại [[Armorica]] gây ra khá nhiều vấn đề rắc rối vào năm [[447]] hoặc [[448]]. Cũng trong thời gian này, người Frank, dưới sự thống lĩnh của vua [[Clodio]], đã tấn công vào khu vực gần [[Arras]], ở [[Belgica Secunda]], Aetius mau chóng ngăn chặn kẻ xâm lược gần [[Vicus Helena]], nơi ông trực tiếp chỉ đạo cuộc hành quân trong khi người chỉ huy của ông là [[Majorian]] (về sau trở thành Hoàng đế) chiến đấu trong đội [[kỵ binh]]. <ref>''Chronica Gallica a. 452'', 133 (s.a. 438); Sidonius Apollinaris, v.210-218. Cited in Jones, p. 27. Jan Willem Drijvers, ''Helena Augusta'', BRILL, ISBN 9004094350, p. 12.</ref> Vào năm [[450]], Aetius khôi phục lại mối quan hệ tốt với người Frank. Cùng năm đó, trên thực tế, vị vua của người Frank là Clodio đã qua đời, một viên quý tộc (''patricius'') ủng hộ con trai của Clodio lúc này đang ở thành La Mã quay trở về lên ngôi vua xứ Frank. <ref>Priscus, fr. 16; Gregory of Tours, ii.7. It is possible that this happened after the [[Battle of the Catalaunian Plains]] in 451 (Jones, p. 27).</ref>
 
===Đánh bại Attila tại Chalons===
[[ImageHình:Attila in Gaul 451CE.svg|300px|thumbnhỏ|Bản đồ tiến công của quân Hung trong cuộc xâm lược xứ Gaul, dẫn đến [[Trận Chalons]].]]
 
Một mối đe dọa thậm chí còn tồi tệ hơn đã khiến đại tướng Aetius phải chú ý đến phía Bắc. Quân [[Đế quốc Hung|Hung]], những [[Kỵ binh]] thiện chiến gây kinh hoàng khắp mọi nơi, đã xây dựng một đế quốc trải dài từ sông Volga đến vùng Baltic. Vua [[Attila]] vĩ đại nhất của họ, được mệnh danh trong lịch sử là "''chiếc roi da của Thượng Đế''" ([[tiếng Latin]]: ''flagellum dei''), đã tàn phá những tỉnh thuộc [[châu Âu]] của [[đế quốc La Mã]] ở phía Đông vào năm [[440]] và sau đó bắt đầu tiến dần về phía Tây, để tránh thảm họa chiến tranh gây bất lợi cho đế chế Tây La Mã, Aetius đã ký kết một thỏa thuận cho phép một bộ phận của người Hung được định cư tại Pannonia, dọc theo [[Sông Sava]], ông còn gửi đến cho Attila, vua người Hung, một viên thư ký tên là [[Constantius]] trợ giúp và xoa dịu tính khí hiếu chiến của vị vua này. Vào năm [[449]], Attila tức giận vì bị mất trộm một món đồ mạ vàng, và Aetius lập tức gửi sứ giả sang trấn an, Attila đáp lại bằng một món quà nho nhỏ là một người lùn tên [[Zerco]], người sau này được Aetius trao trả lại cho người chủ đầu tiên, Aspar. <ref>Priscus, fr. 7 and 8; ''Suda'', Z 29. Cited in Jones, p. 27.</ref>
 
Tuy nhiên mối quan hệ tốt đẹp giữa người La Mã và người Hung không kéo dài được bao lâu, ngay khi Attila muốn công chiếm xứ Gaul, ông ta thừa biết Aetius lúc đó đang là tổng chỉ huy quân đội La Mã xứ Gaul là một chướng ngại vật quan trọng cho sự nghiệp của ông ta, vì thế ông cố gắng loại bỏ nó ngay lập tức. <ref>John of Antioch, fr. 199.2; Jordanes, ''Getica'', 191. Cited in Jones, p.27.</ref> Vào năm [[451]], một đạo quân người Hung đông đảo dưới sự thống lĩnh của Attila, bắt đầu đồng loạt tràn vào tấn công xứ Gaul, họ chiếm được vài thành phố và tiến dần hướng về Orléans (nay thuộc Pháp). <ref>It should be noted that Hunnish armies were never composed entirely of ethnic Huns but contained relative majorities of subject peoples.</ref>
 
Khi người Alan sống trong khu vực này bắt đầu đào ngũ sang phe Attila, Aetius, với sự giúp đỡ từ một [[Nguyên lão Nghị viên]] có thế lực nhất lúc đó là [[Avitus]], đã cử người sang thuyết phục vua xứ Tây Goth là [[Theodoric I]] gia nhập vào liên minh của người La Mã để chống lại mối đe dọa từ bên ngoài, tiếp đến, ông ngăn chặn thành công [[Sangibanus]], đồng minh của Attila từ việc kết hợp giữa hai đạo quân lại với nhau. Liên quân La Mã - Tây Goth tiến tới giải vây cho thành phố Orléans, buộc quân Hung phải từ bỏ cuộc bao vây và rút khỏi nơi đây. <ref>Sidonius Apollinaris, vii.328-331, 339-341; John Malalas, 358; Jordanes, ''Getica'', 195; Gregory of Tours, ii.7. Cited in Jones, p.27.</ref>
 
Vào ngày [[20 tháng 9]] năm 451 (một số nguồn tài liệu khác thì ghi là ngày 20 tháng 6 năm 451), <ref>Bury, J.B., 1923, Chapter 9, § 4.</ref> quân đội của Aetius và Theodoric đã chạm trán với đội quân người Hung của Attila và đồng minh trong [[Trận Châlons]]<ref>Prosperus, s.a. 451; ''Chronica Gallica a. 452'', 139 (s.a. 451), 141 (s.a. 452); Cassiodorus, ''Chronica'', 451; ''Additamenta ad chron. Prosperi Hauniensis'', s.a. 451; Hydatius, 150 (a. 451); ''Chronicon Paschale'', s.a. 450; Jordanes, ''Getica'', 197ff; Gregory of Tours, ii.7; Procopius, i.4.24; John Malalas, 359; Theophanes, AM 5943. Cited in Jones, p. 27.</ref>. Để chống nhau với Attila, ông có đến 5 vạn lính đánh thuê người German. Đêm trước trận đại chiến này, đại tướng Flavius Aetius đã tấn công và tiêu diệt được đội hậu binh của Attila.<ref name="Spencer8587"/> Ông không ngừng nhiệt huyết: ông đóng quân ở một dãy đồi dài, hình chữ U gần đại bản doanh của Attila. Cũng như mọi đại tướng La Mã khác từ cổ chí kim, hẳn là ông đã học hỏi được từ chiến thắng của [[Hannibal]] trong [[trận Cannae]] vào năm 216 trước [[Công Nguyên]]. Ông bố trí quân tinh nhuệ nhất của ông - gồm quân Tây Goth của vua Theodoric chỉ huy và quân La Mã do chính ông thống suất ở hai bên. Quân [[Frank]] và quân [[Alan]] được ông bố trí cho ở giữa. Trong trận đánh kịch liệt, Theodoric bị mất mạng nhưng quân của Aetius đã chiến thắng vẻ vang, chọc thủng tuyến của [[người Gepid]] (đồng minh của người Hung<ref name="Spencer8587"/>) và làm chủ trận địa lúc màn đêm buông xuống. Liên quân La Mã - Tây Goth tiêu diệt được rất nhiều kẻ thù.<ref name="Wierr26"/><ref>Stanley Sandler, ''Ground warfare: an international encyclopedia'', Tập 1, trang 169</ref> Khi đại thắng rồi, đại tướng Flavius Aetius cho quân hạ trại nghỉ đêm trên bãi chiến trường. Ban đầu, ông quyết định kết liễu vua Attila.<ref name="Spencer8587">Spencer Tucker, ''Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict'', các trang 85-87.</ref> Tuy có khả năng nhưng ông không tiêu diệt hoàn toàn Attila vì sợ rằng một khi kẻ thù chung là người Hung bị triệt hạ, người Tây Goth sẽ tìm cách xâm chiếm xứ Gaul. Đại thắng hiển hách tại Châlons của Aetius được nhiều người coi là một trong những chiến thắng quyết định nhất trong lịch sử nhân loại, qua đó ông đã cứu vãn nền văn minh La Mã và đức tin Ki-tô giáo thoát khỏi sự tấn công của một man tộc [[châu Á]].<ref>Richard Ernest Dupuy, [[Trevor Nevitt Dupuy]], ''The encyclopedia of military history: from 3500 BC to the present'', trang 175</ref> Sau đó, ông gợi ý cho người con trai của Theodoric là [[Thorismund]] nhanh chóng tiến về [[Toulouse]] (kinh đô của [[Vương quốc Visigoth|Vương quốc Tây Goth]]) để đảm bảo ngôi vị của mình, cũng vì lý do đó mà có tài liệu nói rằng Aetius đã chiếm giữ hết chiến lợi phẩm cho đạo quân của ông.<ref>''Additamenta ad chron. Prosperi Hauniensis'', s.a. 451; Gregory of Tours, ii.7; Jordanes, ''Getica'', 215ff. Cited in Jones, pp. 27-28.</ref> Đến khi tàn quân Hung - [[Vương quốc Đông Goth|Đông Goth]] rút lui khỏi bãi chiến trường, ông cho quân đuổi theo, và cuộc truy kích kết thúc khi quân địch vượt qua biên giới. Liên minh giữa các chiến binh La Mã của Aetius và các chiến binh rợ kết thúc khi người rợ đều trở về quê hương. <ref name="Wierr26">William Weir, ''Fatal Victories: From the Crusades to Bunker Hill to the Vietnam War: History's Most Tragic Military Triumphs and the High Cost of Victory'', các trang 22-26.</ref>
 
Với chiến thắng vang dội của liên quân Tây La Mã - German do Aetius chỉ huy, người Hung không còn là một mối đe dọa nghiêm trọng của nền văn minh phương Tây<ref name="Spencer8587"/>. Attila quay trở lại vương quốc của ông ta sau khi bại trận tại [[Chalons-sur-Marne]] vào năm [[452]] để tổ chức lễ kết hôn vội vã với Hoàng tỷ của Valentinianus III là nàng [[Honoria]], Aetius nhận thấy không cần thiết phải đề phòng ngăn chặn đường quân Hung đột nhập từ đèo [[Anpơ]] vào Ý, tiếp đến Attila dẫn quân xâm chiếm và tàn phá khắp nước Ý, cướp phá nhiều thành phố và đốt trụi [[Aquileia]] hoàn toàn trong suốt cuộc hành quân mà không gặp một sự chống trả nào. Valentinianus III bỏ chạy từ kinh thành [[Ravenna]] tới thành cũ La Mã, trong khi Aetius vẫn không sợ quân địch, thế nhưng vị kiệt tướng không thể xông pha trận tiền được do ba quân chịu tổn thất quá nặng nề, ông lại quá đơn thương độc mã để có thể lập nên những thắng lợi quân sự hiển hách. Tuy nhiên, theo nhà sử học Edward Gibbon, Aetius không bao giờ thể hiện tài năng kiệt xuất của mình rõ hơn giờ phút này: khi ông bị mọi đồng minh bỏ rơi mà vẫn giữ vững được chiến trường, vẫn tiến hành quấy rối và nán lại được cuộc tiến công của Attila chỉ với một lực lượng ngầm.<ref name="Prosperus, s.a. 452">Prosperus, s.a. 452.</ref><ref>Edward Gibbon, ''The history of the decline and fall of the Roman empire'', Tập 4 trang 244</ref> Cuối cùng Attila dừng chân tại [[Po]], nơi ông ta gặp một phái đoàn sứ thần bao gồm quan [[Thái thú La Mã]] [[Trigetius]], cựu chấp chính quan [[Gennadius Avienus]] và [[Giáo hoàng Lêô I]] tới để thuyết phục ông ta từ bỏ các hành động quân sự, Attila đồng ý rút quân băng qua núi [[Alps]] quay về. Hai năm sau, Attila chết và đế quốc của ông ta cũng theo đó mà sụp đổ. <ref> name="Prosperus, s.a. 452.<"/ref>
 
===Ám sát===
==Di sản==
===Di sản quân sự===
Aetius nhìn chung được coi là một viên chỉ huy quân sự có tài năng thực sự, tài năng quân sự của ông khiến ông nhận được sự kính mến và lòng quý trọng to lớn từ Đế chế Tây La Mã, vì thế ông được mọi người xưng tụng là "người La Mã cuối cùng" còn lại của Đế chế phương Tây. Hầu hết các sử gia đều cho rằng Trận Chalons có ý nghĩa hết sức quan trọng, chính trận chiến này đã đánh tan tác huyền thoại bất khả chiến bại của Attila. <ref>[[Edward Shepherd Creasy]] http://www.standin.se/fifteen06a.htm Fifteen Decisive Battles of the World "The victory which the Roman general, Aëtius, with his Gothic allies, had then gained over the Huns, was the last victory of imperial Rome. But among the long Fasti of her triumphs, few can be found that, for their importance and ultimate benefit to mankind, are comparable with this expiring effort of her arms."</ref> Với chiến thắng huy hoàng này, danh tiếng của ông trở thành bất hủ vì đã đánh tan tác cuộc xâm lược của Attila.<ref name="EdGibbon3398">Edward Gibbon, ''The History of the Decline and Fall of the Roman Empire'', Tập 3, trang 398</ref> Đến nỗi sử gia Gibbon đã phát biểu hùng hồn quan điểm theo đa số:
 
{{bquote|việc ông ta (Attila) rút lui từ bên kia sông Rhine đã phải công nhận rằng chính chiến thắng cuối cùng này còn giữ lại được cái tên của Đế chế Tây La Mã. .".<ref name=Gibbon>Edward Gibbon, ''Decline and Fall of the Roman Empire'', The Modern Library, New York, volume II, p.1089.</ref> }}
Đồng thời, Gibbon cũng công nhận Aetius là một trong những "người La Mã cuối cùng".<ref name="EdGibbon3398"/> Còn theo sử gia [[John Julius Norwich]] thì cay độc đổ tội ám sát Aetius của hoàng đế Valentinianus III do những tên lính gác của ông thực hiện đã khiến cho hoàng đế gặp phải họa sát thân khi thực hiện vụ mưu sát ngu xuẩn vào Aetius "''vị đại tướng vĩ đại nhất của Đế chế''. " <ref>Norwich, John. ''Byzantium: The Early Centuries''</ref> Vì thế di sản quân sự của Aetius được định hình ngay tại Châlons, dù cho ông có cai trị đế chế phương Tây một cách hữu hiệu từ năm 433-450, và những cố gắng nhằm ổn định các vùng biên giới ở châu Âu dưới sự tràn ngập dồn dập của người man rợ, mà kẻ tiên phong đầu tiên là Attila người Hung.
 
Một trong những thành tựu quan trọng nhất của ông đó chính là việc tập hợp một liên minh hùng hậu nhằm chống lại Attila như học giả [[Arther Ferrill ]] đã ghi lại trong một tác phẩm của mình như sau:
 
{{quote|Sau khi chia quân bảo vệ sông Rhine, Attila di chuyển tới vùng Trung Gaul và tiến hành bao vây Orléans. Mục tiêu chính của ông là chiếm giữ một vị trí vững mạnh để làm bàn đạp cho việc chinh phục người Đông Goth ở Aquitaine, nhưng Aetius mau chóng tìm kiếm một liên minh ngõ hầu chống lại người Hung. Lãnh tụ của người La Mã đã thiết lập một liên minh hùng mạnh bao gồm các dân tộc man rợ như Đông Goth, Alan và Burgundi, tập hợp họ lại với kẻ thù truyền thống của họ, người La Mã, vì mục đích phòng thủ xứ Gaul. Dù cho các phe có ra sức bảo vệ Đế chế Tây La Mã đi nữa thì tất cả bọn họ đều có cùng một mối căm thù với người Hung, nó thực sự là một thành công vượt trội của Aetius khi ông hướng họ đến mối quan hệ quân sự hữu hiệu.|[http://history.eserver.org/attila-at-chalons.txt "Attila the Hun and the Battle of Chalons", by Arther Ferrill]}}
 
===Tranh luận===
Khá nhiều ý kiến bàn cãi xoay quanh vấn đề về di sản của Aetius cũng như những gì đã xảy ra tương tư cho Stilicho. Cả hai đều là những vị đại tướng La Mã tài ba nhất và đều bị sát hại bởi sự đố kỵ của hoàng đế, cái chết của họ đã dẫn tới sự suy yếu tột cùng của Đế chế. Điểm khác biệt chính giữa cả hai mà tất cả các sử gia danh tiếng đều cho rằng Aetius là người La Mã khá trung thành với hoàng đế và là trụ cột của Đế chế, trong khi sử gia Bury lại phát hiện ra rằng Stilicho là một kẻ phản bội không cố ý. Vào thời điểm cái chết của Aetius, tất cả các tỉnh của La Mã tại Tây Âu đều tràn ngập sự hiện diện của người man rợ. Do nhận sức mạnh quân sự đáng gờm của họ mà Đế chế khó có thể chế ngự được, nên Aetius đã không trục xuất họ ra khỏi biên giới của Đế chế mà ngược lại, ông còn cho phép họ được định cư bên trong lãnh thỗ của người La Mã để đổi lấy hòa bình và hưởng những ưu đãi về quân sự của họ. Edward Gibbon rút ra kết luận về một chi tiết quan trọng cho rằng người La Mã đã dần đánh mất sức mạnh quân sự và tinh thần thượng võ, hậu quả là chỉ có những lực lượng dưới quyền những tướng lĩnh tài năng như Stilicho và Aetius mới có thể kiểm soát được phần lớn người rợ. <ref>Gibbon, E. [http://www.fordham.edu/halsall/source/gibbon-fall.html The Decline and Fall of the Roman Empire, Chapter 38]</ref>
 
Ngoài ra Gibbon còn nhìn nhận Aetius như một nguồn ánh sáng lạc quan cho đế quốc La Mã đang bước vào thời kỳ suy tàn giống như các ý kiến, nhận xét của các sử gia, học giả như Norwich, Creasy, Ferrill, và Watson. Vào năm [[1980]], [[Robert F. Pennel]] viết trong cuốn ''Ancient Rome from the Earliest Times Down to 476 A.D'' (La Mã cổ đại từ khởi thủy cho đến năm 476):
{{bquote|Đế chế tự bản thân nó giờ chỉ còn là một vết tích. Các xứ như Gaul, Tây Ban Nha, và Anh quốc thì hầu như đã mất, Illyria và Pannonia thì nằm trong tay của người Goth, và Bắc Phi sớm bị người rợ thâu tóm. Valentinian khá may mắn khi sở hữu được danh tướng Aetius, sinh trưởng ở Scythia, người đã giữ cho cái tên La Mã kéo dài sự tồn tài của nó và được người đời phong tặng danh hiệu Người La Mã Cuối Cùng. Về sau ông bị ám sát bởi vị hoàng đế vô ơn Valentinian. ."<ref>[http://www.nalanda.nitc.ac.in/resources/english/etext-project/history/ancrome/chapter42.html Ancient Rome from the earliest times to 476 A.D, By Robert F. Pennel (1890)]</ref> }}
 
Tuy nhiên đã có nhiều ý kiến bất đồng trong việc đánh giá vai trò lịch sử của Aetius từ các sử gia từ xưa đến nay, theo các sử gia như Gibbon, Norwich và Bury thì coi ông là người bảo vệ La Mã trong suốt ba thập kỷ từ sự tấn công tràn lan của người rợ, còn Sir Edward Creasy thì ca ngợi ông là người anh hùng trong trận Châlons, một số khác thì lại phê phán rằng ông đã để mất các tỉnh Bắc Phi của Đế chế vào tay người Vandal, đến như sử gia nổi tiếng như Bury, thường hay phê bình về ông cũng đã phải thốt lên một câu hỏi tỏ vẻ hối tiếc khi nói về cái chết của Aetius : ''Giờ đây ai sẽ là người giải cứu vùng Ý thoát khỏi người Vandal ?''. Chẳng có nhân vật nào có đủ khả năng để thế chỗ Aetius và đảm trách việc bảo vệ và phòng thủ phương Tây. Chỉ có một điều chắc chắn là vai trò của đại tướng Flavius Aetius trong lịch sử sẽ được người đời mãi mãi ghi nhớ về thành tựu to lớn của vị đại tướng La Mã phía Tây cuối cùng và là người đã đánh bại ''cây roi da của Thượng Đế'' Attila người Hung. <ref>[http://www.standin.se/fifteen06a.htm]</ref>
 
=== Aetius trong nghệ thuật===
 
{{s-bef | before=[[Valentinian III|Imp. Caesar Flavius Placidus Valentinianus Augustus]] VI,<br /> [[Nomus|Flavius Nomus]]}}
{{s-ttl | title=[[ Danh sách quan chấp chính tối cao Đế chế La Mã|Quan chấp chính tối cao]] của [[Đế chế La Mã]] | years=[[446]] |regent1=[[Quintus Aurelius Symmachus (consul 446)|Quintus Aurelius Symmachus]] }}
{{s-aft | after=Flavius Calepius,<br /> [[Ardabur|Flavius Ardaburius Iunior]]}}
{{s-end}}
5.681.853

lần sửa đổi