Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Hậu Đường”

n
→‎Các cuộc binh biến: clean up, replaced: {{fact}} → {{fact|date=7-01-2013}} (2)
n (→‎Các cuộc binh biến: clean up, replaced: {{fact}} → {{fact|date=7-01-2013}} (2))
 
==Các cuộc binh biến==
Sau khi diệt được Hậu Lương, Lý Tồn Úc chỉ hưởng lạc không lo chính sự, thích xem diễn tuồng. Năm 926, ông bị một kép hát giết chết khi 41 tuổi. Một người con nuôi của Lý Khắc Dụng là [[Lý Tự Nguyên]] (hay Lý Đản)<ref>Vốn có tên là Mạc Cát Liệt</ref>, khi đó đã 59 tuổi, mang quân trấn thủ từ Hà Đông về chiếm giữ kinh thành Lạc Dương lên làm vua, tức [[Hậu Đường Minh Tông]]. Có ý kiến cho rằng việc thí nghịch [[Hậu Đường Trang Tông]] do Tự Nguyên chủ mưu{{fact|date=7-01-2013}}.
 
Hậu Đường Minh Tông là một trong các vị vua giỏi thời Ngũ Đại. Các nhà sử học đánh giá khá cao thời trị vì của ông trong hơn 50 năm loạn lạc của lịch sử Trung Quốc. Tương truyền trong cảnh Trung Hoa loạn lạc, ông thường thắp hương khấn trời rằng: ''"Tôi là người Hồ, may được làm vua. Mong trời sinh ra bậc minh quân để dẹp loạn khiến thiên hạ thái bình"''{{fact|date=7-01-2013}}. Có ý kiến cho rằng lời khẩn cầu của ông thực hiện năm 927, đã được linh ứng, vì năm đó [[Triệu Khuông Dận]] ra đời, sau này trở thành người lập ra [[nhà Tống]], chấm dứt thời loạn lạc Ngũ Đại thập quốc.
 
Năm 933, Đường Minh Tông chết, con nhỏ Lý Tùng Hậu lên thay, tức [[Hậu Đường Mẫn Đế]]. Được 1 năm, một người con nuôi Minh Tông là Lý Tùng Kha không phục, làm binh biến giết Tùng Hậu lên ngôi, tức là [[Hậu Đường Phế Đế]] (hay Xuất Đế).
986.568

lần sửa đổi