Khác biệt giữa các bản “Kawabata Yasunari”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (r2.7.2) (Bot: Thêm war:Yasunari Kawabata)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
| caption = Kawabata Yasunari
| birthdate = {{Ngày sinh|1899|6|14|df=y}}
| birthplace = [[Ōsaka|Osaka]], [[Nhật Bản]]
| deathdate = {{Ngày mất và tuổi|1972|4|16|1899|6|14|df=yes}}
| deathplace = [[Kamakura]], [[Kanagawa]], [[Nhật Bản]]
}}
 
'''Kawabata Yasunari''' ([[tiếng Nhật]]: 川端 康成; [[14 tháng 6]] năm [[1899]] – [[16 tháng 4]] năm [[1972]]) là tiểu thuyết gia người [[Nhật Bản|Nhật]] đầu tiên và người [[châu Á]] thứ ba, sau [[Rabindranath Tagore]] ([[Ấn Độ]] năm 1913) và [[Shmuel Yosef Agnon]] ([[Israel]] năm 1966), đoạt [[Giải Nobel Văn học]] năm [[1968]], đúng dịp kỷ niệm 100 năm hiện đại hóa [[văn học Nhật Bản]] tính từ cuộc [[Duy Tân Minh Trị Duy tân|Duy Tân]] của [[Thiên hoàng Minh Trị|Minh Trị Thiên Hoàng]] năm 1868.
 
Những sáng tác văn chương, những tiểu luận mỹ học và phê bình văn học của Kawabata Yasunari, qua thời gian vẫn luôn đem lại hấp lực mạnh mẽ đối với nhiều nhà phương Đông học trên khắp các châu lục, có sức lôi cuốn rộng rãi độc giả trên thế giới, phản ảnh nhiều phương diện của [[văn hóa Nhật Bản|văn hóa Nhật]] cũng như những rung cảm đầy đam mê mà tinh tế của tâm hồn Nhật.
 
== Tiểu sử ==
Kawabata sinh ở [[Ōsaka|Osaka]], mồ côi từ năm lên 2, từ đó cậu bé và chị sống cùng ông bà ngoại. Khi cậu lên 7 thì thì bà ngoại qua đời, lên 9 thì mất chị, được 14 tuổi thì mất cả ông ngoại, cậu phải về [[Tōkyō|Tokyo]] sống với gia đình người dì.
 
Đứa trẻ ốm yếu lại côi cút Kawabata chỉ còn biết tựa mình vào năng lực sáng tạo, phong kín vết thương tâm hồn của mình bằng cuộc tìm kiếm mê mải cái đẹp trong cuộc đời.
Hồi nhỏ, Kawabata vẫn mơ ước vẽ tranh. Nhưng đến tuổi mười lăm, ông cảm thấy mình có tài viết hơn là vẽ, nên quyết định chọn con đường văn chương. Do đó mà trong văn xuôi Kawabata, những phong cảnh thiên nhiên và thế giới tâm hồn không ngớt mở ra trước mắt ta những màu sắc tinh tế.
 
Bên cạnh viết văn, Kawabata còn làm phóng viên cho một số tờ báo mà đáng chú ý nhất là tờ ''[[Mainichi Shimbun]]'' ở Osaka và Tokyo. Mặc dù đã từ chối tham gia vào sự hăng hái quân phiệt trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Đệ nhị thế chiến]], ông cũng thờ ơ với những cải cách chính trị của Nhật Bản sau chiến tranh, nhưng rõ ràng chiến tranh là một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất đối với ông (cùng với cái chết của cả gia đình khi ông còn trẻ); một thời gian ngắn sau đó ông nói rằng kể từ đó ông chỉ còn khả năng viết những tác phẩm bi ca mà thôi.
[[Tập tin:Kawabata yasunari birth.jpg|nhỏ|200px|Bia kỷ niệm nơi sinh Kawabata]]
 
Một thời gian ngắn sau khi tốt nghiệp, ông bắt đầu được công nhận nhờ một số truyện ngắn, và được khen ngợi với truyện ''Vũ nữ xứ Izu'' (伊豆の踊り子) năm [[1926]], nói về những quyến rũ mới chớm của tình yêu tuổi trẻ. Các tác phẩm sau này của ông sẽ đi vào những chủ đề tình yêu tương tự. Các nhân vật của ông thường là các cô gái rất đẹp và trẻ, ông luôn hướng đến một vẻ đẹp vẹn toàn, ông cũng là người tôn sùng vẻ đẹp mỏng manh và luôn sử dụng ngôn ngữ đầy hình ảnh u ẩn về cuộc sống thiên nhiên và số phận con người.
 
''[[Xứ tuyết]]'' (雪国), tiểu thuyết đầu tiên của Kawabata, được bắt đầu năm [[1934]], đăng nhiều kỳ từ [[1935]] đến [[1937]], và chỉ hoàn tất năm [[1947]]. Chuyện tình giữa một tay chơi từ [[Tōkyō|Tokyo]] và một nàng ca kỹ (''[[geisha]]'') tỉnh lẻ diễn ra tại một thị trấn xa xôi đâu đó phía tây rặng Alps Nhật Bản (dãy núi chia đôi đảo [[Đảo Honshu|Honshu]]). Vẻ đẹp của tuyết, của các mùa, của người nữ hòa quyện trên từng trang sách, đẹp như thơ, đưa tác phẩm ngay lập tức trở thành cổ điển, và như lời [[Edward G. Seidensticker]], "có lẽ là kiệt tác của Kawabata", đã đưa Kawabata vào số những nhà văn hàng đầu nước Nhật.
 
Sau [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Đệ nhị thế chiến]], ông tiếp tục thành công với những tiểu thuyết như ''Ngàn cánh hạc'' (千羽鶴, một chuyện tình bất hạnh trong khung cảnh trà đạo), ''Tiếng rền của núi'' (山の音), ''Người đẹp say ngủ'' (眠れる美女) và ''Cái đẹp và nỗi buồn'' (美しさと哀しみと, tiểu thuyết cuối cùng của ông, lại một câu chuyện đam mê với kết cuộc buồn).
 
Bản thân Kawabata cho rằng tác phẩm hay nhất của mình là ''Danh thủ cờ vây'' (名人, [[1951]]), truyện ngắn này tương phản rõ rệt với những tác phẩm khác. Truyện kể lại (có hư cấu thêm) một ván [[cờ vây]] năm [[1938]], mà ông đã tường thuật cho báo ''Mainichi''. Đó là ván cờ cuối cùng của danh thủ [[Honinbo Shusai|Shūsai]], ông này đã thua người thách đấu trẻ hơn mình, rồi qua đời một năm sau. Mặc dù truyện có vẻ hời hợt, chỉ là thuật lại một cuộc đấu tranh lên đến đỉnh điểm, một số độc giả cho rằng đó là ẩn dụ thất bại của Nhật Bản trong Đệ nhị thế chiến, số khác lại coi là cuộc đấu tranh giữa truyền thống và hiện đại.
|TÊN=Kawabata Yasunari
|TÊN KHÁC=川端 康成 (tiếng Nhật)
|TÓM TẮT=tiểu thuyết gia và người [[Nhật Bản|Nhật]] đầu tiên đoạt [[giải Nobel Văn học|giải Nobel văn chương]]
|LÚC SINH=[[14 tháng 6]], [[1899]]
|NƠI SINH=[[Ōsaka|Osaka]], [[Nhật Bản]]
|LÚC MẤT=[[16 tháng 4]], [[1972]]
|NƠI MẤT=[[Zushi, Kanagawa|Zushi]], [[Kanagawa]], [[Nhật Bản]]
986.568

lần sửa đổi